Java là một trong những ngôn ngữ lập trình phổ biến nhất hiện nay. Java cung cấp khả năng xây dựng các ứng dụng từ đơn giản đến những ứng dụng hoạt động chặt chẽ, đủ khả năng cho các dự án lớn tầm thương mại (enterprise). Nhờ sự ra đời từ rất sớm, Java có rất nhiều thư viện, tài liệu, code, … và nhiều tài nguyên khác. Từ Java, có thể xây dựng các ứng dụng web, mobile, desktop, các phần mềm cho các lĩnh vực như iOT, …
Trong bài hôm nay, mình sẽ chỉ tập trung vào mảng web của Java. Trong đó có thể kể tới Spring Framework, đây là một hệ sinh thái toàn diện với rất nhiều giải pháp trong phát triển ứng dụng Java, giúp lập trình viên giảm bớt rất nhiều thời gian để xây dựng phần mềm.
Trong bài viết này, ta sẽ đi qua 3 mục có thể nói là core của Spring bao gồm: Spring IOC (Inversion of Control), Dependency Injection (DI), cũng như khái niệm về Bean, Component, … trong Spring
Spring IOC (Inversion Of Control)
Đây có thể nói là các phần cốt lõi của cả Spring Framework. Để nói về tác dụng của nó, hãy thử xem qua bài toán sau:
Ta có một class trong Java, chuyên xử lý các đơn hàng mới của một cửa hàng. Lúc này, một đơn hàng sẽ chứa 2 thông tin là id của người dùng (vd KH11), và id của sản phẩm (vd MAYGIAT), ta sẽ cần từ 2 id này, gọi sang 2 class khác là ProductService (quản lý sản phẩm), và CustomerService (quản lý khách hàng), để từ mã id lấy ra thông tin của khách hàng, sản phẩm rồi sau đó xử lý sâu hơn (Tạo ra đơn hàng cần thông tin địa chỉ khách hàng, rồi thì giá sản phẩm, …)
Với code thông thường, ta cần làm như sau:
Lúc này, ta cần phải tạo các đối tượng của class con là ProductService và CustomerService một cách thủ công, để quản lý vòng đời của chúng (ví dụ khi nào tạo, khi nào tắt ta bị phụ thuộc vào class OrderService).
Rồi thì, ProductService là một class dạng stateless (các object ProductService khác nhau thường không có gì khác cả, tức là ta cần 1 object là được). Lúc này, ta có thể triển khai sử dụng design pattern Singleton (1 class chỉ tạo ra 1 object duy nhất), nhưng ta cũng phải triển khai thủ công
Rõ ràng, ta thấy vấn đề mệt nhất của việc làm thủ công là “Control – Khả năng điều khiển, quản lý”, ở ví dụ trên, ta đang đưa hết việc quản lý cho OrderService về tạo các object cho class phụ thuộc, ví dụ một class khác cần ProductService thì sao? Ta có thể lại phải new 1 object mới, lúc này ta bị thừa object. Hoặc class đó lại phải tạo ra 1 object con là OrderService, rồi dùng class con của OrderService
IOC (Inversion of Control) , lúc này các framework IoC hay các IOC Container sẽ là nơi chứa mọi quản lý, control của các object. Nó quyết định vòng đời của các object ta cần dùng, khi nào thì tạo, khi nào thì xoá, ghép cái nào với cái nào
Tưởng tượng nếu làm thủ công, ta sẽ cần 1 class dạng IOCContainer, rồi trong IOCContainer, ta tạo ra hết mọi object cần có. Rồi ở OrderService, ta sẽ gọi IoCContainer.getProductService() chẳng hạn, ở chỗ khác cần cái gì cũng gọi như vậy, lúc này ta dễ dàng quản lý các object này hơn
Lúc này Spring IOC xuất hiện, ta sẽ khai báo các class cần được quản lý bởi Spring IoC là Bean (sẽ nói thêm ở dưới). Khi nào cần dùng tới class nào, ta chỉ việc sử dụng DependencyInjection để gắn chúng lại với nhau.
Trong Spring, @Component là một annotation để đánh dấu cho Spring biết class nào là một Component (cấu phần) hay Bean mà Spring sẽ quản lý. Các annotation @Service, @Controller, @Repository cũng hoạt động tương tự.
Và khi khai báo cả 2 class là Component, ta có thể kết nối chúng qua Dependency Injection (bạn có thể tham khảo thêm bên trên)
Spring lúc này sẽ tự động ghép nối 2 class trên vào thời điểm được chạy lên.
Bean
Bean trong Spring là annotation để định nghĩa 1 bean. Thường chúng được dùng cho các class utils (hỗ trợ ngoài), hoặc class ở bên thứ 3, mà không nằm trong luồng logic core.
@Bean cần được khai báo trong 1 class có annotation @Configuration. Ta có thể khai báo nhiều bean khác nhau.
Ví dụ ta có thể tạo 1 bean BCryptPasswordENcoder để mã hoá mật khẩu, sau đó có thể sử dụng chúng trong class UserService. Spring tự biết ghép chúng lại với nhau’
Câu hỏi thêm
Ngoài các khái niệm cơ bản như vậy, ta biết rằng mặc định các bean khi khởi tạo sẽ là singleton, ta có thể chỉnh nó thành các kiểu khác, ví dụ sẽ là tồn tại nhiều bean khác nhau của 1 class, … bằng cách đặt scope cho chúng. Tham khảo thêm tại: https://docs.spring.io/spring-framework/reference/core/beans/factory-scopes.html
Lúc nào thì dùng Component, lúc nào thì dùng Bean? Điều này tuỳ vào dự án của bạn, thường thì annotation @Bean sẽ dùng cho các class của bên thứ 3, không nằm chính trong luồng usecase, hay context của dự án và @Component thì ngược lại
Khi code các ứng dụng backend bằng Java với Spring Framework, khả năng cao là bạn đã gặp qua một đoạn code sử dụng @Autowired. Tuy nhiên, nếu bạn sử dụng một số phần mềm lint để kiểm tra code, bạn có thể thấy các phần mềm sẽ cảnh báo @Autowired is deprecated (Autowired không được khuyến khích sử dụng nữa, cách làm không tốt)
Nhìn sơ qua thì đây có vẻ là một cách đơn giản và nhanh gọn để thực hiện DI qua Spring. Chỉ cần khai báo các dependency rồi thêm một annotation (@Autowired), các phần liên kết sẽ được Spring xử lí
Tuy nhiên, cách làm phổ biến này lại có thể dẫn đến nhiều vấn đề về sau này. Hãy thử xem qua các thủ pháp DI được sử dụng qua Spring Framework và các ưu nhược điểm của chúng
3 cách thực hiện Dependency Injection trong Spring Framework
Field Injection
Field Injection chính là tên gọi của cách inject dependency khi ta khai báo bằng @Autowired
Về cơ bản khi khai báo annotation này trên 1 field, method, constructor. Spring sẽ tự tìm dependency phù hợp và kết nối chúng với nhau.
@Autowired về mặc định không sai, tuy nhiên nếu sử dụng không hợp lí chúng có thể gây ra một số vấn đề về sau.
Ví dụ với một code như sau:
Khai báo một Multiplier trong Calculator nhanh chóng bằng @Autowired sẽ không báo lỗi gì khi compile, về cách hoạt động, khi chạy chương trình, Spring sẽ tự tìm kiếm dependency và kết nối chúng với nhau
Tuy nhiên, vì chúng tự động, nên ta thiếu kiểm soát hơn phần này. Tức là lúc này ta không có cách nào để thêm thủ công dependency nữa cho các hoàn cảnh khác ngoài lúc chạy ứng dụng (VD khi chạy test)
Ví dụ như code trên sẽ không báo lỗi, tuy nhiên khi chạy test thì chúng có thể throw NullPointer
Lí do là ở file test trên thì chúng ta đang không có chỗ nào liên kết với Spring cả, vì vậy Spring sẽ không quản lý các bean mà ta đã tạo (Khai báo @Component ở các class kia) nên chúng sẽ không nối vào nhau được -> Ta sẽ bị null pointer vì Multiplier không được khởi tạo lên
Để xử lý vấn đề này, thì nếu sử dụng 2 thủ pháp DI bên dưới (Constructor Injection và Setter Injection) , ta có thể có nhiều khả năng kiểm soát hơn và thêm dependency một cách thủ công mà không qua Spring, tạo nhiều khả năng hơn cho việc test
Hoặc, ta có thể khai báo @SpringBootTest để Spring quản lý file test này và tự động thực hiện việc gắn các bean mà không cần gắn chay
Setter Injection
Cách làm trên như tên của nó, ta sẽ set một dependency của class lớn hơn ở thời điểm runtime
Cách làm này cho phép ta dễ dàng thay đổi dependency của một class trong runtime, ví dụ như đổi 1 repo khác 1 service nào đó, …
Tuy nhiên, ngoài ưu điểm là sự flexible khi set ở runtime, thì nó cũng đi cùng vài nhược điểm khác
Do được set trong runtime, ta đôi khi có thể gặp phải NullPointer khi dependency chưa được khởi tạo, là null, … (vì lúc này chúng là optional, không bắt buộc với class nữa)
Do nó lỏng lẻo hơn nên lúc này với các method trong class gọi đến dependency, ta không được đảm bảo là dependency đã được set, hoặc ta lại phải thêm code để kiểm tra là có dependency chưa, 1 là thêm code, 2 là dẫn tới nullpointer
Với cách làm như thế này, ta có thể không cần Spring quản lý các bean mà có thể test chay hơn, có nhiều quyền kiểm soát hơn vào việc quản lý các dependency
Constructor Injection
Như tên của thủ pháp, ta sẽ thêm dependency cho 1 class ngay tại thời điểm khởi tạo class cha
Ở file test trên, mình đang sử dụng mock để dựng class multiplier lên theo kèm để gắn vào Calculator qua constructor
Việc này đảm bảo 1 class luôn có đủ dependency để khởi tạo (tuỳ theo cách custom constructor)
Hoặc mình hoàn toàn có thể làm như thế này
(Việc sử dụng mock cho phép nhiều khả năng khác trong test hơn, ví dụ mình có thể kiểm tra xem một hàm trong class đó được gọi bao nhiêu lần, … , chúng được quản lý theo dạng Proxy Design Pattern, mình sẽ nói ở bài viết khác)
Bạn có thể đọc thêm bài viết này về một số khái niệm trong Spring như IoC, Bean, …