[A.I System Programming] B3: Lịch sử của máy tính

This entry is part 3 of 6 in the series A.I System Programming

Máy tính là gì?

Khi chúng ta hình dung về “một chiếc máy tính” ngày nay, chúng ta có lẽ sẽ nghĩ đến một thiết bị như máy tính để bàn (PC), máy chơi game cầm tay hoặc điện thoại thông minh. Nhưng đó không phải là những cỗ máy duy nhất mà con người từng sử dụng để tính toán và điện toán.

Để truy vết lịch sử của máy tính, trước tiên chúng ta cần quyết định xem cái gì được coi là máy tính và máy tính khác với những chiếc máy tính bỏ túi hoặc máy tính toán thuần túy như thế nào. Đây là một câu hỏi khó đến ngạc nhiên

Máy tính phải là thiết bị điện tử?

Hãy cùng xem xét thêm một số khái niệm thường được đề xuất để định nghĩa máy tính. Từ điển tiếng Anh Oxford, yêu cầu máy tính phải là thiết bị điện tử. Nhưng những cỗ máy tương tự có thể được làm từ các chất nền (vật liệu) khác, chẳng hạn như nước

image 59 - quochung.cyou PTIT

MONIAC, viết tắt của Monetary National Income Analogue Computer được chế tạo vào năm 1949, MONIAC là một máy tính được sử dụng để mô phỏng dòng tiền chạy qua nền kinh tế và để minh họa các tác động của các can thiệp kinh tế lên một mô hình kinh tế.

Một số người lập luận rằng máy tính phải là kỹ thuật số (digital), trái ngược với tương tự (analog). Một cỗ máy kỹ thuật số là cỗ máy biểu diễn dữ liệu bằng các chữ số, các tập hợp ký hiệu rời rạc như các chữ số nhị phân 0 và 1. Ngược lại, một cỗ máy tương tự có một tập hợp vô hạn, liên tục các trạng thái có thể xảy ra, chẳng hạn như lượng nước trong các bể của MONIAC, khiến MONIAC trở thành một cỗ máy tương tự.

Trong lý thuyết tính toán, chúng ta có Luận thuyết Church (Church’s thesis), một định nghĩa khắt khe hơn về máy tính mà hầu hết các nhà khoa học máy tính hiện đại đều đồng ý. Nó có thể được diễn giải như sau:

Một máy tính là một cỗ máy có thể mô phỏng bất kỳ cỗ máy nào khác, với điều kiện được cung cấp bao nhiêu bộ nhớ tùy ý.

Hiện tại các máy tính rõ ràng tồn tại để có thể thực hiện những việc sau, vì vậy một máy tính theo luận thuyết Church cũng phải có khả năng thực hiện các tác vụ này:

  • Đọc, ghi và xử lý dữ liệu.
  • Đọc, ghi và thực thi chương trình.
  • Cộng (và do đó thực hiện các phép tính số học).
  • Nhảy (lệnh goto).
  • Rẽ nhánh (lệnh if).

Trước cuộc cách mạng công nghiệp

image 60 - quochung.cyou PTIT

Vào khoảng những năm 40000 TCN,người ta tìm thấy xương Lebombo, một mảnh xương với các khía khắc có thể đã được sử dụng như một chiếc gậy tính. Một vạch đại diện cho một vật thể vật lý, có thể trong thời kì này, nó dùng cho đếm động vật, các mặt hàng thực phẩm hoặc các ngày để tính thời gian cho một cuộc săn bắn nào đó.

Xương Lebombo là một ví dụ về biểu diễn dữ liệu. Nó có thể đã được sử dụng cho một hình thức tính toán đơn giản như cộng thêm một vào tổng mỗi khi một dấu vết mới được tạo ra.

Khoảng những năm 4000 TCN, các thành phố đầu tiên bắt đầu phát triển. Các thành phố đòi hỏi những hành vi/tổ chức ở quy mô lớn hơn, ví dụ như theo dõi việc giao thương và thuế. Vào năm 3000 TCN, văn hóa thành phố Sumer ở Lưỡng Hà (Iraq ngày nay) đã phát triển hệ thống chữ viết đầu tiên, và đến năm 2500 TCN, họ đã sở hữu chiếc máy tính toán đầu tiên: bàn tính (abacus)

image 61 - quochung.cyou PTIT

Bàn tính đang biểu diễn 070710678

Trong cách sử dụng thông thường, trạng thái của bàn tính biểu diễn số (thập phân, tự nhiên).

Có chín cột, mỗi cột đại diện cho một trong các chữ số trong số này. Mỗi cột được chia thành một hộp dưới chứa năm hạt và một hộp trên chứa hai hạt. Vị trí mặc định của các hạt ở hộp dưới là ở dưới, và vị trí mặc định của các hạt ở hộp trên là ở trên.

Ở trạng thái này, một cột biểu thị chữ số 0. Mỗi hạt được đẩy từ dưới lên trên của hộp dưới có giá trị là 1. Mỗi hạt được đẩy từ trên xuống dưới của hộp trên có giá trị là 5.

  • Cột 1: 0
  • Cột 2: 1 nút xuống ở trên (+5) , 2 nút dưới đẩy lên (+2 ) = 7

Để cộng 1 vào một số trên bàn tính (tức là tăng nó lên), bạn nâng một hạt từ hộp dưới của cột ngoài cùng bên phải. Nếu tất cả năm hạt trong hộp dưới của một cột đã được nâng lên, bạn đẩy tất cả chúng xuống lại và thay thế chúng bằng cách hạ một trong các hạt ở hộp trên trong cùng cột đó. Nếu cả hai hạt trên đều đã hạ xuống, bạn đẩy chúng ngược lên và thay thế chúng bằng cách nâng một hạt từ hộp dưới ở cột bên trái của nó. Việc chuyển dữ liệu từ một cột sang cột bên trái của nó được gọi là phép toán nhớ. (Giống như việc xét chữ số của 1 số từ phải sang trái, thì mỗi hàng đơn vị ta x 10 vậy)

Để cộng hai số, a + b, trước tiên bạn thiết lập bàn tính để biểu diễn các chữ số của a. Sau đó, bạn thực hiện b lần tăng như trên. Trạng thái của bàn tính khi đó biểu diễn kết quả.

Kiểu tính toán này, nơi số thứ nhất được “nạp vào” thiết bị và số thứ hai được “cộng thêm vào” đó, để lại kết quả cuối cùng là trạng thái của hệ thống, được gọi là kiến trúc tích lũy (accumulator architecture), và nó vẫn còn được sử dụng phổ biến ngày nay. Nó “tích lũy” kết quả của một chuỗi các phép tính; ví dụ, chúng ta có thể cộng một danh sách gồm nhiều số bằng cách cộng lần lượt từng số vào trạng thái và xem tổng tích lũy mới nhất sau mỗi lần cộng.

Khoảng năm 100 TCN, xuất hiện cơ chế Antikythera. Nó được tìm thấy vào năm 1901 trong một xác tàu đắm ở Địa Trung Hải; con tàu bị đắm dường như đang trên đường từ Hy Lạp đến La Mã, mang theo cơ chế này để bán hoặc làm vật phẩm cống nạp.

image 62 - quochung.cyou PTIT

Chạy bằng bánh răng cơ khí, dùng để dự đoán các sự kiện thiên văn, bao gồm vị trí của năm hành tinh, các pha của mặt trăng, thời điểm nhật thực/nguyệt thực và thời gian diễn ra Thế vận hội Olympic. Nó bao gồm 37 bánh răng bằng đồng, và người dùng sẽ quay một tay cầm để mô phỏng diễn biến tương lai của các trạng thái thiên văn. Các kết quả được hiển thị trên các mặt đồng hồ, được tính toán dựa trên tỷ số truyền của các bánh răng cơ khí.

image 63 - quochung.cyou PTIT

Máy đo quãng đường (Odometers) là những cỗ máy đo khoảng cách tầm xa mà người Hy Lạp và La Mã đã sử dụng để khảo sát và lập bản đồ đế chế của họ.

Loại máy đo quãng đường này hoạt động như sau: chúng phát ra tiếng “cạch” mỗi khi được đẩy đi một khoảng cách nhất định. Chiếc máy đo này được kéo bởi một con ngựa, giống như một cỗ xe. Có một số viên bi kim loại được lưu trữ trong các hốc của một bánh răng gỗ hình tròn. Một trong các bánh xe của xe có gắn một cái chốt sao cho cứ sau mỗi vòng quay, nó lại chạm và làm xoay bánh răng một góc cố định nhỏ. Một cái lỗ có kích thước bằng viên bi nằm dưới một vị trí của bánh răng cho phép một viên bi phía trên nó rơi ra khỏi hốc và rơi vào một hộp thu thập bên dưới. Tổng quãng đường đã đi được ghi lại bằng số lượng viên bi trong hộp đếm vào cuối chuyến đi.

Những cỗ máy này có phải là máy tính không? Rõ ràng có các khái niệm về dữ liệu được sử dụng để đại diện cho các vật thể trong thế giới, cũng như các hình thức tự động hóa và tính toán. Nhưng giống như MONIAC, mỗi cỗ máy chỉ làm được một việc duy nhất: dự đoán nhật thực hoặc đo khoảng cách. Theo luận thuyết Church, ta thấy rằng các cỗ máy này không thể lập trình lại để làm 1 việc khác.

image 64 - quochung.cyou PTIT

Trong nhiều năm tiếp theo, xuất hiện nhiều “máy móc” với ý tưởng phát triển từ các ý tưởng trên. Ví dụ Codex Madrid của Davinci, dùng để tính toán qua hệ thống bánh răng. Tỷ số truyền giữa mỗi cặp cột là 1:10, vì vậy bánh xe của mỗi cột sẽ quay với tốc độ bằng 1/10 so với cột bên phải của nó. Có 13 bánh xe, mỗi bánh xe đại diện cho các cột của một số thập phân

image 65 - quochung.cyou PTIT

Cách mạng công nghiệp

Máy Phân tích đã được thiết kế như một chiếc máy lập trình được, có mục đích hoàn toàn tổng quát (general-purpose).

image 67 - quochung.cyou PTIT

Để đạt được tính tổng quát này, Máy Phân tích cung cấp một loạt các phép toán số học và các hoạt động khác dưới dạng các bộ phận máy đơn giản, cùng với một bộ nhớ để lưu trữ dữ liệu và khả năng đọc các chương trình từ thẻ đục lỗ.

image 69 - quochung.cyou PTIT

Các chương trình này quy định một trình tự các thao tác đọc/ghi bộ nhớ và các phép toán số học, đồng thời cho phép rẽ nhánh tùy thuộc vào trạng thái của phép tính, tức là một câu lệnh if.

Cấu trúc bộ nhớ và lệnh (Core and Memory)

Phần lõi của Máy Phân tích chứa nhiều máy đơn giản độc lập, mỗi máy thực hiện một chức năng nhất định, chẳng hạn như cộng các số và kiểm tra xem một số có bằng một số khác hay không.

Máy Phân tích đã giới thiệu khái niệm hiện đại về bộ nhớ máy tính. Mỗi máy có thể giữ một con số khác nhau. Mỗi máy sẽ được gán một mã định danh số hoặc “địa chỉ” (address) để chỉ định chính xác máy nào cần đọc hoặc ghi.

Một chuỗi các chỉ thị (instructions) sẽ được mã hóa dưới dạng nhị phân và đục lỗ trên băng giấy. Mỗi chỉ thị sẽ ra lệnh cho cỗ máy kích hoạt một trong các máy đơn giản. Thông thường, sau mỗi chỉ thị, cỗ máy sẽ đẩy băng giấy đục lỗ theo từng dòng để tải chỉ thị tiếp theo. Tuy nhiên, cỗ máy cũng có khả năng kiểm tra kết quả của máy đơn giản vừa chạy và tùy thuộc vào giá trị đó, nó có thể nhảy đến một dòng khác trên giấy. Điều này mang lại cho các chương trình khả năng thay đổi hành vi để phản hồi lại các kết quả trung gian.

Một chương trình cũng có thể được tạo ra để chạy mãi mãi bằng cách dán phần cuối của băng giấy đục lỗ vào phần đầu của nó, tạo thành một vòng lặp vật lý, như trong máy băng giấy.

image 70 - quochung.cyou PTIT

Máy Phân tích có phải là máy tính Church?

Thiết kế của nó chứa đựng tất cả các đặc điểm cơ bản của một máy tính hiện đại: CPU, bộ nhớ, bus, các thanh ghi, bộ điều khiển và đơn vị số học. Nó có thể đọc, ghi và xử lý dữ liệu. Nó có thể làm toán. Không giống như các máy tính thuần túy trước đó, nó có thể nhảy (goto) và rẽ nhánh (if), chuyển đến các chỉ thị khác nhau trong chương trình tùy theo trạng thái tính toán.

Cơ – Điện

Trước khi có máy tính hiện đại, thế giới trải qua một giai đoạn “lai” gọi là Cơ – Điện (Electromechanical). Thay vì dùng bánh răng thuần túy, người ta dùng điện để điều khiển các chuyển động cơ học.

Rơ-le là linh kiện then chốt của thời kỳ này. Bạn có thể hiểu đơn giản nó là một công tắc điện được đóng/ngắt bằng một tín hiệu điện khác, thay vì dùng tay người.

  • Cấu tạo và hoạt động: Nó gồm một cuộn dây đồng (solenoid) quấn quanh một lõi sắt. Khi có dòng điện chạy qua cuộn dây, nó tạo ra từ trường biến lõi sắt thành nam châm điện. Lực từ này sẽ hút một thanh sắt (gọi là phần ứng – armature) di chuyển vật lý để chạm vào tiếp điểm, giúp đóng hoặc ngắt một mạch điện thứ hai.
  • Tại sao nó quan trọng? Chỉ cần một dòng điện nhỏ, yếu có thể điều khiển một mạch điện khác mang năng lượng khổng lồ (như khởi động động cơ xe tải).
    • Tính logic: Nếu kết hợp nhiều rơ-le, ta có thể tạo ra các phép tính logic (VÍ DỤ: “Nếu rơ-le A đóng VÀ rơ-le B đóng thì đèn mới sáng”). Đây chính là nền tảng của tư duy máy tính.
image 72 - quochung.cyou PTIT

Hiến pháp Hoa Kỳ yêu cầu việc điều tra dân số phải được thực hiện và xử lý sau mỗi 10 năm, và đến năm 1890, dân số đã tăng đến mức việc xử lý các số liệu thống kê bằng con người là không thể. Herman Hollerith đã thiết kế một chiếc máy để tự động hóa việc xử lý dữ liệu và sử dụng nó thành công trong kỳ điều tra dân số năm 1890 để thực hiện phân tích dữ liệu lớn trên thông tin của 62 triệu công dân. Dữ liệu của mỗi công dân được chuyển từ mẫu đơn điều tra viết tay sang một thẻ đục lỗ bởi con người. Mỗi câu hỏi trong cuộc điều tra dân số là dạng trắc nghiệm, và được mã hóa trên thẻ đục lỗ bằng cách đục bỏ một trong số các lựa chọn.

image 71 - quochung.cyou PTIT

Các xấp thẻ có thể được đọc vào máy, máy sẽ kiểm tra sự hiện diện hay vắng mặt của các đặc điểm nhất định hoặc sự kết hợp của các đặc điểm. Điều này có nghĩa là chiếc máy này có khả năng tương đương với các truy vấn SQL hiện đại, bao gồm SELECT, WHERE, GROUP BY, và ORDER BY.

Cuộc chiến mật mã (Thế chiến II)

Thế chiến II là “lò luyện” thúc đẩy máy tính phát triển vượt bậc nhờ nhu cầu giải mã:

  • Máy Enigma (Đức): Một hệ thống các bánh xe xoay (rotors) làm thay đổi chữ cái theo quy luật điện học cực kỳ phức tạp. VD: tự động chuyển bất kì số nào thêm 3 đơn vị chẳng hạn, vậy nên mật báo truyền tin là “123” sẽ bị chuyển thành “456”, một đoạn văn bản sẽ bị mã hóa thành một dạng khác không dịch được
  • Máy Bomba (Ba Lan) và Bombe (Anh): Các cỗ máy cơ-điện dùng để “quét” hàng triệu khả năng của Enigma. Alan Turing (Anh) đã cải tiến máy này để bẻ khóa mật mã hải quân Đức, giúp phe Đồng minh xoay chuyển cục diện.
  • Zuse Z3 (Đức): Cỗ máy của Konrad Zuse (1941) sử dụng tới 2.000 rơ-le. Đây được coi là máy tính lập trình được đầu tiên, dù nó chạy rất chậm (10 lệnh/giây).

Khi rơ-le cơ học lộ khuyết điểm (chậm, hay bị kẹt, phát ra tiếng ồn), Bóng chân không (Vacuum Tubes/Valves) ra đời (1904).

image 73 - quochung.cyou PTIT

Hãy tưởng tượng nó như một cái bóng đèn nhưng có thêm một “lưới” điều khiển ở giữa.

  • Cơ chế: Khi sợi đốt nóng lên, các electron bị đẩy ra khỏi cực âm (cathode) và bay qua chân không để đến cực dương (anode), tạo thành dòng điện.
  • Tác dụng: Bằng cách thay đổi điện áp ở lưới điều khiển, ta có thể cho phép dòng điện đi qua hoặc chặn lại.
  • Ưu điểm vượt trội:không có bộ phận chuyển động cơ học (không có thanh sắt nào phải nhảy lên xuống như rơ-le), bóng chân không có thể đóng ngắt hàng triệu lần mỗi giây. Điều này giúp máy tính chuyển từ tốc độ “rùa bò” của rơ-le sang tốc độ điện tử cực nhanh.

Hoàn thành năm 1945, ENIAC là máy tính điện tử đa năng bằng bóng chân không.

image 74 - quochung.cyou PTIT
  • Lập trình bằng tay: Để “lập trình”, các nữ toán viên phải trực tiếp cắm các dây cáp vào bảng điều khiển

Máy ảo (Virtual Machine) đầu tiên: Nhóm lập trình viên gồm 6 phụ nữ (như Betty Jean Jennings, Frances Bilas…) đã tạo ra một bước ngoặt: Thay vì rút dây cho mỗi bài toán, họ thiết lập một cấu hình dây cố định cho phép máy đọc các lệnh từ các bảng công tắc.

Lúc này, các công tắc đóng vai trò là “phần mềm” sơ khai, điều khiển lớp “phần cứng” bên dưới. Đây chính là khái niệm máy ảo đầu tiên trong lịch sử.

Kiến trúc von Neumann

Được chứng minh lần đầu bởi máy Manchester Baby (1948), đây là kiến trúc mà mọi máy tính và smartphone ngày nay vẫn dùng.

image 75 - quochung.cyou PTIT
  • Nguyên lý Stored-program: Cả chương trình và dữ liệu đều được lưu trữ chung trong cùng một bộ nhớ.
  • Phát kiến:
    • 1. Tốc độ: Thay đổi chương trình chỉ đơn giản là nạp một dãy số mới vào bộ nhớ, không cần động vào phần cứng.
    • 2. Tự sửa đổi (Self-modifying code): Vì chương trình cũng chỉ là dữ liệu trong bộ nhớ, máy tính có thể tự viết ra các lệnh mới hoặc tự thay đổi mã nguồn của chính nó khi đang chạy. Đây là nền tảng tối thượng cho trí tuệ nhân tạo và các hệ điều hành phức tạp.

Định luật Moore và máy tính hiện đại

Năm 1947, Bóng bán dẫn (Transistor) ra đời, đánh dấu sự kết thúc của những căn phòng đầy bóng chân không nóng bức.

Sự vượt trội của transistor đến từ bản chất vật lý của trạng thái rắn so với môi trường chân không:

  • Không cần năng lượng kích hoạt: Bóng chân không cần dòng điện để nung nóng sợi đốt liên tục (giống bóng đèn dây tóc), gây lãng phí năng lượng cực lớn dưới dạng nhiệt. Transistor hoạt động bằng điện trường, không cần nung nóng, tiêu thụ năng lượng ít hơn hàng nghìn lần.
  • Kích thước và khả năng tích hợp: Vì hoạt động trong chất rắn, transistor có thể được thu nhỏ xuống mức nanomet. Bóng chân không cần khoảng không gian vật lý đủ lớn để các electron bay qua và vỏ thủy tinh để duy trì chân không, nên không thể thu nhỏ.
  • Độ bền vật lý: Bóng chân không có sợi đốt sẽ bị “cháy” sau một thời gian sử dụng và vỏ thủy tinh dễ vỡ. Transistor là một khối chất rắn đồng nhất, không có bộ phận tiêu hao hay chuyển động, nên tuổi thọ gần như vĩnh cửu trong điều kiện bình thường.
  • Tốc độ chuyển mạch (Switching Speed): Việc điều khiển dòng điện bằng điện trường trong chất bán dẫn nhanh hơn rất nhiều so với việc điều khiển dòng electron bay trong chân không.

Những năm 1960 và các Bóng bán dẫn lớn (The 1960s and Big Transistors)

Các “máy tính mini” (minicomputers) chạy bóng bán dẫn của những năm 1960 không sử dụng vi mạch (microchips), mà thay vào đó được chế tạo từ các loại bóng bán dẫn “lớn”, dài khoảng 1 cm.

image 77 - quochung.cyou PTIT

Các ứng dụng của máy tính bán dẫn trong những năm 1960 bao gồm việc vận hành ARPANET, tiền thân của internet dựa trên TCP/IP ngày nay, và việc Margaret Hamilton lập trình mã đổ bộ lên mặt trăng của tàu Apollo năm 1969 bằng ngôn ngữ hợp ngữ (assembly). Hình ảnh là bản in chương trình hợp ngữ hoàn chỉnh của bà cho tàu Apollo 11

image 78 - quochung.cyou PTIT

Công việc sau này thực sự là “khoa học tên lửa” (rocket science), và yêu cầu bà phải tạo ra lĩnh vực kỹ thuật phần mềm (software engineering) hiện đại trong khi tìm kiếm các phương pháp để làm cho đoạn mã cực kỳ quan trọng này trở nên chính xác hơn.

Vào năm 1965, Gordon Moore, CEO của Intel, đã đưa ra một quan sát mà từ đó được gọi là Định luật Moore. Định luật này nói rằng tốc độ của máy tính hoặc số lượng bóng bán dẫn trên mỗi đơn vị diện tích sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 18 tháng hoặc 2 năm.

1970 và IC

Công nghệ IC cho phép các mạch điện dựa trên bóng bán dẫn được thu nhỏ lại, sao cho cùng một hệ thống dây điện từng lấp đầy một tủ rack những năm 1960 giờ đây có thể nằm gọn trên một “chip” silicon kích thước bằng móng tay. Từ góc nhìn kiến trúc, các con chip không có gì quá kỳ lạ, nếu bạn lấy sơ đồ đi dây của một chiếc máy bóng đèn chân không những năm 1940 và thu nhỏ nó lại, bạn sẽ có một con chip.

Nếu nhìn chip qua kính hiển vi, bạn sẽ thấy các mô hình đi dây tương tự như dây điện ở mặt sau của các tủ rack những năm 1940, 1950 hoặc 1960. Chip silicon sau đó được “đóng gói” bên trong một khối nhựa thường có màu đen lớn hơn, với các chân kim loại lớn kết nối các đầu vào và đầu ra tinh vi của chip với thế giới bên ngoài, thường là một bảng mạch in.

image 76 - quochung.cyou PTIT

1980

Những năm 1980 là thời hoàng kim của kiến trúc máy tính: lần đầu tiên, máy tính điện tử trở nên đủ rẻ và nhỏ để được sản xuất hàng loạt và được những người bình thường mua về sử dụng tại nhà.

image 79 - quochung.cyou PTIT

Chiếc IBM 5150 PC ra mắt vào năm 1981, dựa trên chip Intel 8088. IBM và các công ty khác đã bán chiếc máy này cũng như các máy PC khác trong suốt những năm 1980 để sử dụng trong các văn phòng kinh doanh.

Khái niệm PC (Personal Computer) là thái cực đối lập với thị trường máy tính gia đình đa dạng và thiên về kiến trúc vì hai lý do.

  • Thứ nhất, nó thực thi một kiến trúc chuẩn hóa trên các thành phần máy tính để nhiều nhà sản xuất có thể sản xuất chúng tương thích với nhau.
  • Thứ hai, nó bao bọc tất cả phần cứng dưới một hệ điều hành nghiêm ngặt, kiểm soát mọi quyền truy cập vào phần cứng thông qua một giao diện tiêu chuẩn. IBM có thể sử dụng ảnh hưởng thị trường của mình để áp đặt các tiêu chuẩn lên linh kiện, nhờ đó họ có thể mua chúng từ những nhà cung cấp rẻ nhất và kiếm tiền bằng cách đóng dấu thương hiệu của mình lên những chiếc PC đã lắp ráp.

Để phản ứng lại các hệ điều hành độc quyền đang được cài đặt trên PC và các máy tính lớn hơn, dự án GNU và phong trào Phần mềm Tự do đã được Richard Stallman tạo ra trong thập kỷ này, điều này sau đó đã dẫn đến các hệ thống và triết lý dựa trên Linux mà chúng ta sử dụng ngày nay.

1990

Kiến trúc máy tính bị thống trị bởi kiến trúc tiêu chuẩn của máy tính cá nhân (PC), vốn đã được sử dụng trong tin học văn phòng những năm 1980 nhưng giờ đây được các tập đoàn PC đẩy mạnh khắp nơi, kể cả trong gia đình và trường học. Các hệ điều hành mã nguồn đóng được bán kèm như một phần của gói PC. Trong thời gian này, các trường học đã ngừng dạy khoa học máy tính và tập trung dạy cách sử dụng phần mềm văn phòng thương mại.

Chuyển từ việc coi đối tượng người dùng là lập trình viên và thành viên cộng đồng công nghệ sang coi người dùng là khách hàng và người tiêu dùng các sản phẩm phần mềm, chẳng hạn như trình xử lý văn bản và bảng tính (VD: Word, Excel, …)

Như định luật Moore đã dự đoán một cách đáng tin cậy, tốc độ bộ vi xử lý tăng gấp đôi sau mỗi 18 tháng. World Wide Web chính thức hoạt động tại CERN vào năm 1990 và phát triển phổ biến, dẫn đến cơn sốt đầu tư dot-com vào cuối thập kỷ. Khi có nhiều hacker và cuối cùng là người tiêu dùng tham gia vào web, các thiết kế máy tính máy chủ gắn trên giá đỡ (rack-mounted server) chuyên dụng đã trở nên phổ biến, bắt đầu với Compaq ProLiant vào năm 1993. Giống như Manchester Baby và các máy tính mini những năm 1960, chúng được thiết kế để xếp chồng trong các đơn vị giá đỡ 19 inch, nhưng hoạt động liên tục với độ tin cậy cao. -> xuất hiện định nghĩa về server

image 80 - quochung.cyou PTIT

Những năm 2000, 2010 và Sự kết thúc của Định luật Moore

Kiến trúc PC gồm các linh kiện hàng hóa kết hợp với hệ điều hành vẫn tiếp tục duy trì trong suốt những năm 2000. Định luật Moore, và hệ quả là việc lắp ráp hoặc mua một chiếc máy tính mới có tốc độ gấp đôi sau mỗi vài năm, vẫn tiếp diễn. Các máy móc sử dụng cùng một thiết kế máy tính PC cơ bản, với các giao diện và thành phần khác nhau được nâng cấp về tốc độ. Tốc độ internet cũng tăng lên, cho phép truyền phát video cũng như chuyển văn bản và hình ảnh.

Trong những năm 1990 và 2000, giả định rằng tốc độ xung nhịp của các bộ vi xử lý sẽ tăng gấp đôi sau mỗi vài năm, và thực tế là như vậy. Định luật Moore trở thành một lời tiên tri tự ứng nghiệm khi các nhà sản xuất chip ở Thung lũng Silicon sử dụng nó như một mục tiêu cần đạt được.

Tuy nhiên, tất cả đã sụp đổ vào những năm 2010. Công nghệ sản xuất bóng bán dẫn thực sự vẫn tiếp tục tăng gấp đôi số lượng bóng bán dẫn trên mỗi đơn vị diện tích, nhưng tốc độ xung nhịp đã đạt mức tối đa vào năm 2010, ở khoảng 3.5 GHz.

Đột nhiên, các bộ vi xử lý không còn nhanh hơn nữa. Điều này là do các định luật vật lý cơ bản xung quanh tốc độ tính toán và nhiệt lượng. Trong thời kỳ định luật Moore, nhiệt độ của các bộ vi xử lý cũng tăng lên cùng với tốc độ; cần có các quạt lớn hơn, mạnh hơn và các hệ thống làm mát khác như làm mát bằng chất lỏng. Các bóng bán dẫn nhỏ đi, nhưng các cánh quạt lại to ra. Nếu xu hướng này tiếp tục qua những năm 2010, giờ đây chúng ta sẽ có những bộ vi xử lý nóng hơn cả bề mặt mặt trời.

Một khái niệm liên quan chặt chẽ là mức tiêu thụ điện năng. Khi các con chip tỏa nhiều nhiệt hơn, chúng tiêu thụ nhiều điện hơn, và thập kỷ này cũng chứng kiến sự khởi đầu của một nỗ lực hướng tới tính toán năng lượng thấp, di động hơn, đặc biệt là dưới dạng điện thoại thông minh.

Trong khi hai thập kỷ trước đó chứng kiến kiến trúc máy tính trì trệ như một lĩnh vực nghiên cứu, chỉ dựa vào những tiến bộ trong công nghệ chế tạo để tạo ra các lợi ích định kỳ, thì giờ đây lĩnh vực này lại mở rộng trở lại cho những ý tưởng hoàn toàn mới.

Chúng ta không thể làm máy tính nhanh hơn thông qua dạng “tốc độ” của định luật Moore, nhưng chúng ta vẫn có thể nhồi nhét ngày càng nhiều bóng bán dẫn lên chip với dạng “mật độ” của nó. Giờ đây, chúng ta có thể xem xét việc làm cho mọi thứ trở nên song song (parallel), thực hiện nhiều thao tác cùng một lúc thay vì từng cái một.

Trong khi vẫn còn nhiều kiến trúc song song cần được khám phá, những năm 2010 đã chứng kiến ba loại kiến trúc song song chính thành công trong thế giới thực.

  1. Đa nhân (Multicore): Đây là các con chip được sản xuất để chứa nhiều bản sao của một thiết kế CPU. Thập kỷ này bắt đầu với các hệ thống lõi kép (duo-core) và tiến triển qua lõi tứ (quad), tám (eight) và thậm chí nhiều lõi hơn.
  2. Điện toán cụm (Cluster computing): Một dạng song song hóa trong đó nhiều máy đơn nhân hoặc đa nhân thông thường được liên kết yếu với nhau. Công việc tính toán được chia thành nhiều phần độc lập có thể gán cho mỗi máy. Phương pháp này đặc biệt hữu ích cho các tác vụ “dữ liệu lớn” theo mô hình map-reduce.
  3. Xử lý đồ họa (GPU): Sự phát triển của các card đồ họa (đơn vị xử lý đồ họa – GPU) thành các thiết bị tính toán song song đa năng. Khái niệm này hiện đang liên tục phát triển thành nhiều kiến trúc mới lạ, chẳng hạn như các chip được quảng cáo phục vụ cho A.I (NPU/TPU) gần đây được tìm thấy trên điện thoại di động.

2020, Cloud/IoT

  • Internet Vạn vật (IoT): Các thiết bị ngày càng nhỏ và rẻ sẽ được nhúng vào ngày càng nhiều vật thể trong thế giới thực. Từ “thành phố thông minh” giám sát giao thông đến “nhà máy thông minh” theo dõi từng món hàng. Tủ lạnh của bạn sẽ tự nhận biết khi nào sắp hết pho mát và tự động đặt hàng ở siêu thị.
  • Điện toán Đám mây (Cloud Computing): Ngược lại với xu hướng trên, các thiết bị IoT năng lượng thấp sẽ không tính toán nhiều mà chủ yếu để thu thập dữ liệu. Dữ liệu này sau đó sẽ được xử lý ở quy mô khổng lồ trong các trung tâm tính toán chuyên dụng: những tòa nhà có kích thước bằng kho hàng chứa đầy năng lượng tính toán.

Xu hướng cho thấy rõ các tài nguyên nghiên cứu đổ vào để tạo ra các sản phẩm nhỏ nhất, dùng ít năng lượng nhất, hiệu quả hơn (như điện thoại thông minh, tivi thông minh, tủ lạnh thông minh, máy giặt thông minh, ….) , hoặc ngược hẳn lại, là tạo ra những thứ mạnh nhất, to nhất (các hệ thống datacenter, server khổng lồ), và hiếm có đầu tư cho vùng ở giữa.

Khái niệm tính toán hiện đại đã được Church định nghĩa. Các máy điện tử thương mại của những năm 1950, bắt đầu với UNIVAC, qua các máy tính mini những năm 1960 và vi mạch những năm 1970 cho đến ngày nay dường như có thể được nhận diện rõ ràng là máy tính. Nhưng liệu có bất cứ thứ gì trước đó nên được công nhận là “chiếc máy tính đầu tiên”?

  • Manchester Baby là một máy tính Church nếu chấp nhận rằng nó có thể được cấp bộ nhớ vô hạn, dù cách làm không rõ ràng.
  • ENIAC có tiềm năng là máy tính Church nếu được lập trình theo cách máy ảo (VM), nhưng nó vẫn là kiến trúc Harvard.
  • Zuse Z3, Colossus, hay Máy Phân tích của Babbage đều có thể đạt được trạng thái này về mặt lý thuyết.
  • IBM đã thực hiện phân tích dữ liệu lớn từ những năm 1890, nhưng phân tích dữ liệu không phải là tính toán Church tổng quát trừ khi bạn tìm ra cách biến mọi vấn đề thành một truy vấn SQL.

Có lẽ con người đã tính toán từ năm 40.000 TCN với bàn tính, xương, đá và các con số trong đầu. Tất cả những thứ trên về mặt lý thuyết đều là máy tính Church vì chúng có thể mô phỏng bất kỳ cỗ máy nào nếu được lập trình theo một cách nhất định. Vì vậy, có lẽ chúng ta đã luôn có máy tính — và Church chỉ là người đầu tiên nhận ra chúng.

Tham khảo:

  • Computer Architecture (Charles Fox)
  • Kiến trúc máy tính (Wikipedia)
  • Parallel and High Performance Computing (Yuliana Zamora, Robert Robey)

Kaggle Multi Local Module Project Python

image - quochung.cyou PTIT

Kaggle’s setup is amazing for quick experiments but not great when you start treating your work like an actual project. You get one main notebook. That’s it.

If you want to use your own .py files, you basically have to zip them up, upload them as a dataset, and then import from that path. It’s clunky and hard to maintain. Change one line of code? You need to re-upload the dataset again.

I saw this frustration all over the web, in Kaggle forums, Stack Overflow threads, even Reddit. Everyone was hacking their way around it, trying things like chained kernels or huge notebooks with thousands of lines of code. Nobody seemed happy with it.

So I went down the rabbit hole. Read a bunch of Medium posts, watched YouTube tutorials, skimmed corporate engineering blogs. I noticed a pattern: real ML pipelines in the wild are automated. They have CI/CD. They deploy cleanly. But for personal Kaggle projects, nobody had built something simple and usable.

That’s when it clicked, I could write a small tool that did the boring part for me. A script that could take my local project, package it up neatly, and push it to Kaggle as a dataset and a runnable notebook automatically.

Building kaggle-auto-deploy

The idea was simple:

  • Collect all project files.
  • Upload them as a Kaggle dataset.
  • Auto-generate a notebook that sets everything up and runs main.py.
  • Push it, version it, done.

So that’s what I built. A small CLI tool:

python kaggle_deploy.py ./my_project

For example, I used it on a small housing price predictor I’d built.

Behind the scenes, it ties into Git too, so every deployment matches a commit. No more “which version did I upload again?” moments.

Repository: https://github.com/quochung-cyou/kaggle-auto-deploy

Sample: https://www.kaggle.com/datasets/quochungcyou/housing-price-predictor-files https://www.kaggle.com/code/quochungcyou/multi-local-module-project-python-run-sample

Overview

This solution automatically converts any multi-file Python project into a Kaggle-compatible format by:

  • Analyzing your project structure and dependencies
  • Creating a Kaggle dataset containing all your project files
  • Generating a Kaggle notebook that automatically downloads and runs your project
  • Uploading everything to Kaggle via API

Guide

You can try command below to try deploy the sample housing price predictor project:

python kaggle_deploy.py ./housing_price_predictor
alt text
alt text

If you modify the code and redeploy again, you may need use Check Update option to update the dataset and notebook.

alt text

Prerequisites

  1. Install Kaggle API
pip install kaggle
  1. Configure Kaggle Credentials
    • Option A: API Token File
      • Go to https://www.kaggle.com/account
      • Click “Create New API Token”
      • Download kaggle.json
      • Place it in:
        • Linux/Mac: ~/.kaggle/kaggle.json
        • Windows: C:\Users{username}.kaggle\kaggle.json
    • Option B: Environment Variablesexport KAGGLE_USERNAME=”your-username” export KAGGLE_KEY=”your-api-key”
  2. Set Permissions (Linux/Mac)
chmod 600 ~/.kaggle/kaggle.json

Installation & Setup

  1. Download the Deployer Script
git clone https://github.com/yourusername/kaggle-auto-deploy.git
cd kaggle-auto-deploy
  1. Make it Executable (Linux/Mac)
chmod +x kaggle_deployer.py
  1. Optional: Add to PATH (Linux/Mac)
# Add to ~/.bashrc or ~/.zshrc
export PATH="$PATH:/path/to/kaggle_deployer"

Usage

Basic Usage

python kaggle_deployer.py /path/to/your/project

Sample Project

This repository includes a sample project called housing_price_predictor that demonstrates how to structure a multi-file Python project for deployment to Kaggle.

python kaggle_deploy.py ./housing_price_predictor

Project Structure

housing_price_predictor/
├── main.py          # Entry point
├── data_loader.py   # Data loading and preprocessing
├── model.py         # Model training and evaluation
├── utils/
│   └── helpers.py   # Utility functions
├── data/
│   └── housing.csv  # Sample data
└── requirements.txt # Dependencies

Running the Sample Project

# Run locally
cd housing_price_predictor
python main.py

# Deploy to Kaggle
python kaggle_deployer.py ./housing_price_predictor

Setting Up n8n SSO with Self-Hosted Keycloak:

Step 1: Deploy Keycloak with Docker and PostgreSQL

1.1 Set Up PostgreSQL

Create a PostgreSQL instance for Keycloak’s data persistence.

mkdir -p ~/keycloak/postgres

Create a docker-compose.yml file for Keycloak and PostgreSQL:

version: '3.8'
services:
  postgres:
    image: postgres:16
    environment:
      POSTGRES_DB: keycloak
      POSTGRES_USER: keycloak
      POSTGRES_PASSWORD: secure_password
    volumes:
      - ./postgres:/var/lib/postgresql/data
    restart: unless-stopped
  keycloak:
    image: quay.io/keycloak/keycloak:26.0
    command: start
    environment:
      KC_DB: postgres
      KC_DB_URL: jdbc:postgresql://postgres:5432/keycloak
      KC_DB_USERNAME: keycloak
      KC_DB_PASSWORD: secure_password
      KC_HOSTNAME: auth.example.com
      KC_PROXY: edge
      KEYCLOAK_ADMIN: admin
      KEYCLOAK_ADMIN_PASSWORD: admin_secure_password
    ports:
      - "8080:8080"
    depends_on:
      - postgres
    restart: unless-stopped

Save this as keycloak/docker-compose.yml. Replace secure_password and admin_secure_password with strong, unique values, and update auth.example.com to your Keycloak subdomain.

1.2 Configure Nginx for SSL

Set up Nginx as a reverse proxy to secure Keycloak with HTTPS.

Install Nginx:

sudo apt update
sudo apt install nginx

Create an Nginx configuration file:

sudo nano /etc/nginx/sites-available/keycloak

Add the following, replacing auth.example.com with your subdomain:

server {
    listen 80;
    server_name auth.example.com;
    return 301 https://$host$request_uri;
}

server {
    listen 443 ssl;
    server_name auth.example.com;

    ssl_certificate /etc/letsencrypt/live/auth.example.com/fullchain.pem;
    ssl_certificate_key /etc/letsencrypt/live/auth.example.com/privkey.pem;

    location / {
        proxy_pass http://localhost:8080;
        proxy_set_header Host $host;
        proxy_set_header X-Real-IP $remote_addr;
        proxy_set_header X-Forwarded-For $proxy_add_x_forwarded_for;
        proxy_set_header X-Forwarded-Proto $scheme;
    }
}

Enable the configuration:

sudo ln -s /etc/nginx/sites-available/keycloak /etc/nginx/sites-enabled/
sudo nginx -t
sudo systemctl reload nginx

Obtain an SSL certificate using Certbot:

sudo apt install certbot python3-certbot-nginx
sudo certbot --nginx -d auth.example.com

1.3 Start Keycloak

Launch the Keycloak stack:

cd ~/keycloak
docker-compose up -d

Access the Keycloak admin console at https://auth.example.com/admin, logging in with admin and admin_secure_password. Change the admin password immediately for security.

Step 2: Configure Keycloak as a SAML Identity Provider

Keycloak will act as the Identity Provider (IdP) for n8n. We’ll configure a SAML client, and set up mappers for user attributes.

Get required information from N8N

image - quochung.cyou PTIT
  1. Navigate to Settings -> SSO
  2. Save the Entity ID and Redirect URL

Create a SAML Client for n8n

  1. Navigate to Clients > Create Client.
  2. Set:
    • Client Type: SAML
    • Client ID: (n8n’s Entity ID from previous step, matching its base URL)
    • Name: n8n (Your choice)
  3. Configure:
    • Valid Redirect URIs: https://n8n.example.com/saml/acs (Redirect URI from previous step)
  4. Settings: (Image below)
    • Name ID format: Email
    • Force name ID format: ON
    • Force POST binding: ON
    • Include AuthnStatement: ON
    • Sign Document: ON
    • Sign Asseration: ON
    • Client Signature Required: Off
  5. Save the client.
image 1 - quochung.cyou PTIT
image 2 - quochung.cyou PTIT
image 3 - quochung.cyou PTIT

Configure Mappers

Mappers define how user attributes are sent to n8n.

  1. In the n8n client, go to Clients Scope > (The entity id, ex: https://yourdomain.com/rest/sso/saml/metadata-dedicated)
  2. Add mapper -> By configuration -> User property

2. Create the mapper like image, each one config look like this

image 5 - quochung.cyou PTIT
image 6 - quochung.cyou PTIT
image 7 - quochung.cyou PTIT
image 8 - quochung.cyou PTIT
image 4 - quochung.cyou PTIT

Export SAML Metadata

  1. Go to Realm Settings > SAML 2.0 Identity Provider Metadata.
  2. Download the XML file or copy the metadata URL (e.g., https://auth.example.com/realms/n8n-realm/protocol/saml/descriptor).
image 9 - quochung.cyou PTIT
image 10 - quochung.cyou PTIT

Setup the N8N use SAML metadata

image 11 - quochung.cyou PTIT

Edit metadata

Locate <md:IDPSSODescriptor WantAuthnRequestsSigned=”true” in the XML, and change true to false

Final gonna look like <md:IDPSSODescriptor WantAuthnRequestsSigned=”false”

Test Setting

  1. Open an incognito browser window and navigate to https://n8n.example.com.
  2. You should be redirected to Keycloak’s login page.
  3. Log in with a Keycloak user (create one in Users > Add User if needed, ensuring the email matches an n8n user).
  4. Upon successful authentication, you should be redirected to n8n’s dashboard.

Tìm hiểu lí do cần database, datalake, data warehouse?

Mở đầu

Trong thời đại số ngày nay, dữ liệu hiện hữu ở khắp mọi nơi và đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc sống cũng như công việc của chúng ta. Từ việc chúng ta lướt Facebook, Tiktok hàng ngày, đặt vé xem phim online, cho đến cách các công ty lớn vận hành chuỗi cung ứng phức tạp, mọi thứ đều không ngừng tạo ra và tiêu thụ dữ liệu.

Ví dụ:

  • Facebook biết chúng ta khi lướt trên bảng tin, sẽ dừng lại tại bài viết nào lâu, bài viết nào thu hút sự chú ý, chủ đề nào chúng ta thường xem, bạn bè nào chúng ta thường hay tương tác
  • Các app đặt vé xem phim có dữ liệu về phim nào nhiều người xem, bộ phim thể loại nào thì thường được giới tính, độ tuổi nào quan tâm, ….
image - quochung.cyou PTIT

Nhưng bạn có bao giờ dừng lại và tự hỏi, với một khối lượng dữ liệu khổng lồ và đa dạng như vậy – từ những con số khô khan trong bảng tính Excel, các giao dịch ngân hàng, đến hình ảnh, video, bài đăng mạng xã hội, hay những dòng log hệ thống dày đặc – làm thế nào để chúng ta có thể lưu trữ, quản lý và quan trọng nhất là khai thác chúng một cách hiệu quả?

Trong mọi tổ chức, thông thường sẽ xuất hiện hai nhu cầu cốt lõi:

  • Xử lý các hoạt động diễn ra hàng ngày
  • Phân tích chiến lược dựa trên dữ liệu đã tích luỹ

OLTP và OLAP

OLTP (Online Transaction Processing) – Xử lý giao dịch trực tuyến

Hãy tưởng tượng bạn đang thực hiện một giao dịch trực tuyến: đặt một chiếc vé máy bay trên website hãng hàng không, chuyển tiền qua ứng dụng ngân hàng, hay đơn giản là mua một món hàng trên sàn thương mại điện tử.

Tất cả những hành động này đòi hỏi hệ thống phải xử lý ngay lập tức, đảm bảo tính chính xác tuyệt đối (tiền phải được chuyển đúng tài khoản, vé phải được xác nhận và không bị bán trùng) và diễn ra nhanh chóng, không làm bạn phải chờ đợi. Đó chính là bản chất của OLTP – Xử lý giao dịch trực tuyến.

OLTP tập trung vào việc xử lý một khối lượng lớn các giao dịch nhỏ, riêng lẻ diễn ra liên tục trong thời gian thực. Các ví dụ đời thường của hệ thống OLTP có ở khắp nơi quanh ta: máy tính tiền ở siêu thị (quét mã sản phẩm, trừ số lượng tồn kho, tính tiền), máy ATM rút tiền, hệ thống đặt phòng khách sạn, hay việc bạn cập nhật thông tin cá nhân trên một trang web

image 1 - quochung.cyou PTIT

Đặc điểm quan trọng nhất của các hệ thống OLTP là ưu tiên tốc độ xử lý cực nhanh (thường tính bằng mili giây) và tính nhất quán của dữ liệu. Chắc chắn khách hàng sẽ không muốn tiền của mình bị “bốc hơi” hay thông tin đơn hàng bị sai lệch.

Hệ thống OLTP được thiết kế để đảm bảo điều đó. Chúng thường làm việc với dữ liệu hiện tại (trạng thái mới nhất của thông tin) và thực hiện các truy vấn tương đối đơn giản và lặp đi lặp lại, như tìm kiếm thông tin một bản ghi cụ thể (point query), thêm mới, cập nhật hoặc xóa dữ liệu dựa trên hành động của người dùng.

OLAP (Online Analytical Processing) – Xử lý phân tích trực tuyến

Tuy nhiên, từ góc nhìn của một nhà quản lý doanh nghiệp. Thay vì xử lý từng giao dịch nhỏ lẻ, bạn lại có những câu hỏi lớn hơn, mang tính chiến lược:

  • “Trong quý vừa qua, dòng sản phẩm nào mang lại lợi nhuận cao nhất?”
  • “Xu hướng mua sắm của nhóm khách hàng ở độ tuổi 25-35 là gì?”
  • “Chiến dịch marketing giảm giá 10% vừa rồi có thực sự hiệu quả trong việc thu hút khách hàng mới không?”
image 2 - quochung.cyou PTIT

Để trả lời những câu hỏi này, không thể chỉ nhìn vào một vài giao dịch đơn lẻ. Chúng ta cần phải xem xét một khối lượng dữ liệu lịch sử khổng lồ, tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn, và phân tích chúng từ nhiều góc độ khác nhau (ví dụ: theo thời gian, theo khu vực địa lý, theo dòng sản phẩm, theo kênh bán hàng…). Đây chính là lúc OLAP – Xử lý phân tích trực tuyến phát huy vai trò

Các hệ thống OLAP được thiết kế để hỗ trợ việc phân tích dữ liệu phức tạp, giúp khám phá các xu hướng, mẫu hình ẩn giấu và cung cấp những hiểu biết sâu sắc (insights) để hỗ trợ việc ra quyết định kinh doanh (một phần quan trọng của Business Intelligence – BI). Ví dụ về các tác vụ OLAP bao gồm: phân tích doanh thu theo vùng miền qua các năm , dự báo nhu cầu thị trường cho sản phẩm mới, phân khúc khách hàng dựa trên hành vi mua sắm, hay đánh giá hiệu quả hoạt động của các phòng ban.

image 3 - quochung.cyou PTIT

Khác với OLTP, các truy vấn OLAP thường rất phức tạp, đòi hỏi quét qua hàng triệu, thậm chí hàng tỷ bản ghi để tính toán các chỉ số tổng hợp (như tổng, trung bình, đếm, tỷ lệ phần trăm). Do đó, thời gian phản hồi của các truy vấn OLAP có thể lâu hơn đáng kể, từ vài giây, vài phút đến hàng giờ, tùy thuộc vào độ phức tạp và khối lượng dữ liệu. Chúng làm việc chủ yếu với dữ liệu lịch sử được tích lũy qua thời gian.

Tại sao cần phân biệt OLTP và OLAP? Mâu thuẫn thúc đẩy sự tách biệt

Bạn có thể thắc mắc: tại sao không dùng chung một hệ thống cho cả hai việc? Câu trả lời nằm ở sự mâu thuẫn cơ bản trong nhu cầu và đặc tính của OLTP và OLAP.

Hãy hình dung thế này: Hệ thống OLTP giống như một quầy giao dịch ngân hàng luôn bận rộn, cần xử lý nhanh chóng yêu cầu nạp/rút tiền của từng khách hàng. Trong khi đó, hệ thống OLAP giống như một phòng họp lớn nơi các nhà phân tích đang xem xét sổ sách kế toán của cả năm, thực hiện những phép tính toán phức tạp để lập kế hoạch chiến lược.

Nếu cố gắng thực hiện cả hai việc trong cùng một “căn phòng” (tức là trên cùng một cơ sở dữ liệu), sẽ dẫn dàng xảy ra việc các truy vấn phân tích OLAP nặng nề, đòi hỏi nhiều tài nguyên (CPU, bộ nhớ, đọc/ghi đĩa) sẽ làm chậm hoặc thậm chí “tắc nghẽn” các giao dịch OLTP đang diễn ra.

Thử tưởng tượng giao dịch mua hàng online của bạn bị treo chỉ vì bộ phận phân tích đang chạy một báo cáo doanh thu khổng lồ trên cùng hệ thống. Điều này rõ ràng là không thể chấp nhận được đối với các hoạt động kinh doanh cốt lõi, vốn đòi hỏi sự ổn định và tốc độ

image 4 - quochung.cyou PTIT

Database, Data Warehouse, Data Lake

Database (Cơ sở dữ liệu) truyền thống

Database truyền thống, đặc biệt là cơ sở dữ liệu quan hệ (Relational Database), đóng vai trò như cuốn sổ cái điện tử, là nền tảng lưu trữ dữ liệu cho hầu hết các ứng dụng mà chúng ta tương tác hàng ngày, từ mạng xã hội, ứng dụng ngân hàng đến các website thương mại điện tử. Chúng được thiết kế và tối ưu chủ yếu cho các tác vụ OLTP – xử lý giao dịch trực tuyến.

image 5 - quochung.cyou PTIT

Đặc điểm chính của Database truyền thống:

  • Loại dữ liệu: Chúng chủ yếu làm việc với dữ liệu có cấu trúc (structured data). Đây là loại dữ liệu được tổ chức một cách gọn gàng, ngăn nắp trong các bảng (tables), với các hàng (rows) và cột (columns) được định nghĩa rõ ràng, tương tự như cách bạn tổ chức dữ liệu trong một file Excel. Ví dụ: bảng Users có các cột UserID, UserName, Email, Password; bảng OrdersOrderID, UserID, OrderDate, TotalAmount.  
  • Schema (Lược đồ/Cấu trúc): Database truyền thống sử dụng cơ chế Schema-on-Write. Điều này có nghĩa là bạn phải định nghĩa chi tiết cấu trúc của các bảng (tên cột, kiểu dữ liệu của cột là gì – số, chữ, ngày tháng…) trước khi bạn có thể lưu trữ bất kỳ dữ liệu nào vào đó. Giống như bạn phải kẻ sẵn các cột trong sổ kế toán trước khi ghi chép các khoản thu chi vậy. Lược đồ này thường khá cứng nhắc (rigid) và việc thay đổi nó có thể phức tạp, nhưng chính sự cứng nhắc này lại giúp đảm bảo tính nhất quán và toàn vẹn của dữ liệu.  
  • Mục đích chính: Mục tiêu hàng đầu là phục vụ các hoạt động đọc, ghi, cập nhật, xóa (CRUD – Create, Read, Update, Delete) dữ liệu một cách nhanh chóng và đáng tin cậy, hỗ trợ trực tiếp cho các giao dịch OLTP của ứng dụng. Chúng cần đảm bảo mỗi giao dịch diễn ra thành công hoặc thất bại hoàn toàn (tính nguyên tử – Atomicity) và dữ liệu luôn ở trạng thái hợp lệ.  
  • Người dùng: Người dùng trực tiếp chính của các database này thường là các Kỹ sư Backend (Backend Engineers). Họ là những người xây dựng và bảo trì các ứng dụng, viết code để tương tác (đọc/ghi) với database. Người dùng cuối như chúng ta chỉ tương tác gián tiếp với database thông qua giao diện của ứng dụng web hoặc mobile.  
  • Ví dụ: Cơ sở dữ liệu lưu trữ thông tin tài khoản người dùng và bài viết của một diễn đàn trực tuyến, cơ sở dữ liệu quản lý thông tin sản phẩm, đơn hàng và khách hàng của một cửa hàng online, hay cơ sở dữ liệu chứa thông tin chuyến bay, lịch trình và đặt chỗ của một hãng hàng không.

Data Warehouse (Kho dữ liệu)

Khi một doanh nghiệp phát triển, họ thường có rất nhiều hệ thống hoạt động (OLTP) khác nhau: hệ thống quản lý bán hàng (POS), hệ thống quản lý quan hệ khách hàng (CRM), hệ thống quản lý kho (Inventory), hệ thống quản lý nhân sự (HR)…

Mỗi hệ thống lại có cơ sở dữ liệu riêng, dẫn đến tình trạng dữ liệu bị phân mảnh và cô lập (data silos). Việc tổng hợp dữ liệu từ tất cả các nguồn này để có một cái nhìn toàn cảnh về tình hình kinh doanh trở nên vô cùng khó khăn. Thêm vào đó, như chúng ta đã thảo luận, việc chạy các truy vấn phân tích phức tạp (OLAP) trực tiếp trên các hệ thống OLTP đang hoạt động sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu năng.

Để giải quyết những thách thức này, khái niệm Data Warehouse (Kho dữ liệu) đã ra đời vào cuối những năm 1980, đầu 1990. Bạn có thể hình dung Data Warehouse như một thư viện trung tâm khổng lồ, được xây dựng riêng biệt với các hệ thống hoạt động hàng ngày. Nó không trực tiếp phục vụ các giao dịch tức thời, mà nhiệm vụ chính là thu thập, tích hợp và lưu trữ dữ liệu từ nhiều nguồn OLTP khác nhau trong toàn doanh nghiệp, sau đó tối ưu hóa dữ liệu đó cho mục đích phân tích (OLAP)Business Intelligence (BI)

image 7 - quochung.cyou PTIT

Quá trình “nhập sách” vào thư viện – ETL/ELT:

Làm thế nào để dữ liệu từ các hệ thống nguồn khác nhau có thể được chuyển vào Data Warehouse một cách thống nhất? Đó là nhờ một quy trình quan trọng gọi là ETL (Extract – Transform – Load).  

  1. Extract (Trích xuất): Dữ liệu được lấy ra (trích xuất) từ các hệ thống nguồn khác nhau (database OLTP, file log, thậm chí cả dữ liệu từ các dịch vụ bên ngoài như Google Analytics hay hệ thống CRM của đối tác).  
  2. Transform (Biến đổi): Đây là bước quan trọng nhất. Dữ liệu thô được trích xuất thường không đồng nhất (ví dụ: ngày tháng có định dạng khác nhau, tên khách hàng viết hoa/thường lẫn lộn, đơn vị tiền tệ khác nhau…). Ở bước này, dữ liệu sẽ được làm sạch (loại bỏ lỗi, dữ liệu trùng lặp), chuẩn hóa (đưa về cùng một định dạng, đơn vị đo lường), tích hợp (kết hợp dữ liệu từ nhiều nguồn, ví dụ: liên kết thông tin khách hàng từ CRM với lịch sử mua hàng từ hệ thống bán lẻ), và biến đổi thành một cấu trúc (schema) phù hợp cho việc phân tích.  
  3. Load (Tải): Sau khi đã được “tút tát” sạch đẹp và đúng chuẩn, dữ liệu sẽ được tải vào Data Warehouse
image 8 - quochung.cyou PTIT

Đôi khi, thứ tự có thể thay đổi một chút thành ELT (Extract – Load – Transform), tức là dữ liệu được tải vào Data Warehouse trước rồi mới thực hiện biến đổi tại đó. Cách tiếp cận này thường phổ biến hơn với các nền tảng dữ liệu hiện đại có khả năng xử lý mạnh mẽ.

Đặc điểm chính của Data Warehouse:

  • Loại dữ liệu: Chủ yếu lưu trữ dữ liệu có cấu trúc hoặc bán cấu trúc đã được xử lý, làm sạch và tích hợp từ nhiều nguồn khác nhau. Dữ liệu ở đây không còn ở dạng thô như lúc ban đầu.  
  • Schema (Lược đồ/Cấu trúc): Vẫn sử dụng Schema-on-Write hoặc schema được định nghĩa trước, tương tự database truyền thống. Tuy nhiên, schema trong Data Warehouse thường được thiết kế theo mô hình hướng chủ đề (subject-oriented), tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi như Bán hàng (Sales), Tiếp thị (Marketing), Tài chính (Finance), Nhân sự (HR)… thay vì theo cấu trúc của từng ứng dụng nguồn. Các mô hình phổ biến là Star Schema và Snowflake Schema, giúp tối ưu cho các truy vấn phân tích.  
  • Mục đích chính: Phục vụ các hoạt động phân tích dữ liệu lịch sử, tạo báo cáo quản trị (BI reports), khám phá insight kinh doanh và hỗ trợ ra quyết định chiến lược (OLAP). Nó giúp trả lời các câu hỏi “Tại sao?” và “Điều gì sẽ xảy ra?”.  
  • Người dùng: Người dùng chính là các Chuyên viên phân tích nghiệp vụ/kinh doanh (Business Analysts) , các nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp – những người cần các báo cáo tổng hợp, dashboard trực quan và những phân tích sâu sắc về tình hình hoạt động của công ty.  
  • Tính chất dữ liệu:
    • Tích hợp (Integrated): Dữ liệu từ nhiều nguồn được hợp nhất và chuẩn hóa, tạo ra một bức tranh toàn cảnh.  
    • Bất biến (Non-volatile): Dữ liệu trong Data Warehouse một khi đã được ghi vào thì rất hiếm khi bị cập nhật hay xóa đi. Thay vào đó, các dữ liệu mới (ví dụ: doanh số của ngày hôm qua) sẽ được nạp thêm vào. Điều này giúp lưu giữ lịch sử thay đổi của dữ liệu theo thời gian.  
    • Gắn nhãn thời gian (Time-variant): Dữ liệu luôn được gắn với một yếu tố thời gian (ngày, tuần, tháng, quý, năm), cho phép các nhà phân tích xem xét và so sánh dữ liệu qua các khoảng thời gian khác nhau, từ đó nhận diện xu hướng và mẫu hình phát triển.  
    • Thường là Read-only: Các nhà phân tích chủ yếu thực hiện các truy vấn đọc dữ liệu chứ không sửa đổi dữ liệu gốc trong kho.

Việc xây dựng Data Warehouse được xem là nỗ lực quan trọng đầu tiên của các doanh nghiệp nhằm phá vỡ các “ốc đảo dữ liệu” (data silos) và tạo ra một “nguồn sự thật duy nhất” (single source of truth) cho việc báo cáo và phân tích. Trước khi có Data Warehouse, việc tạo ra một báo cáo tổng hợp đáng tin cậy, ví dụ như kết hợp dữ liệu bán hàng từ hệ thống POS với dữ liệu chi phí marketing từ phòng Marketing và dữ liệu tồn kho từ bộ phận Logistics, là một công việc cực kỳ thủ công, tốn thời gian và dễ sai sót. Quy trình ETL tự động hóa việc tích hợp và làm sạch này, cung cấp cho các nhà phân tích một bộ dữ liệu tập trung, nhất quán và đáng tin cậy để họ có thể đặt ra những câu hỏi phức tạp hơn về hoạt động kinh doanh.  

Data Lake (Hồ dữ liệu)

image 9 - quochung.cyou PTIT

Data Warehouse đã giải quyết rất tốt bài toán tích hợp dữ liệu cho mục đích BI và báo cáo. Tuy nhiên, cùng với sự bùng nổ của Big Data và sự trỗi dậy của Khoa học dữ liệu (Data Science) và Học máy (Machine Learning – ML), Data Warehouse bắt đầu bộc lộ những hạn chế:

  1. Kém linh hoạt: Cấu trúc dữ liệu (schema) phải được định nghĩa trước (Schema-on-Write) khiến việc thêm nguồn dữ liệu mới hoặc thay đổi cấu trúc trở nên tốn thời gian và công sức.  
  2. Khó xử lý dữ liệu phi cấu trúc: Data Warehouse được thiết kế chủ yếu cho dữ liệu có cấu trúc hoặc bán cấu trúc. Việc lưu trữ và phân tích các loại dữ liệu phi cấu trúc như văn bản (email, bài đăng mạng xã hội, đánh giá sản phẩm), hình ảnh, video, âm thanh, dữ liệu cảm biến (IoT)… là rất khó khăn hoặc không hiệu quả.  
  3. Chi phí lưu trữ cao: Việc lưu trữ một khối lượng dữ liệu khổng lồ, đặc biệt là dữ liệu lịch sử trong nhiều năm, trên các hệ thống Data Warehouse truyền thống có thể rất tốn kém.  
  4. Mất mát thông tin tiềm năng: Quá trình Transform trong ETL có thể làm mất đi một số chi tiết hoặc sắc thái trong dữ liệu gốc, mà những chi tiết này lại có thể hữu ích cho các mô hình Machine Learning hoặc các phân tích khám phá sâu hơn.

Để khắc phục những hạn chế này và đáp ứng nhu cầu mới của thời đại Big Data, khái niệm Data Lake (Hồ dữ liệu) đã xuất hiện.

Tương tự, Data Lake là một kho lưu trữ tập trung, có khả năng chứa mọi loại dữ liệu – từ dữ liệu có cấu trúc trong các bảng, dữ liệu bán cấu trúc như file JSON, XML, đến dữ liệu phi cấu trúc như text, ảnh, video – ở định dạng gốc (raw format) của chúng. Nó được thiết kế để xử lý khối lượng dữ liệu cực lớn (terabytes đến petabytes và hơn thế nữa) với chi phí lưu trữ thấp (thường tận dụng các dịch vụ lưu trữ đối tượng trên đám mây như Amazon S3, Google Cloud Storage).

Đặc điểm chính của Data Lake:

  • Loại dữ liệu: Chấp nhận tất cả các loại dữ liệu: structured, semi-structured, và unstructured. Đây là điểm khác biệt lớn nhất so với Database và Data Warehouse.  
  • Schema (Lược đồ/Cấu trúc): Sử dụng cơ chế Schema-on-Read. Nghĩa là dữ liệu được đổ vào hồ mà không cần định nghĩa cấu trúc trước. Cấu trúc (schema) chỉ được áp dụng hoặc suy ra khi dữ liệu được đọc ra để phục vụ một mục đích phân tích cụ thể. Điều này mang lại sự linh hoạt tối đa, cho phép lưu trữ dữ liệu mới một cách nhanh chóng mà không cần lo lắng về việc phải thiết kế schema trước.  
  • Mục đích chính:
    • Lưu trữ tập trung mọi loại dữ liệu của tổ chức với chi phí thấpkhả năng mở rộng cao.  
    • Cung cấp “nguyên liệu thô” cho các hoạt động Khoa học dữ liệu (Data Science)Học máy (Machine Learning), đặc biệt là huấn luyện các mô hình phức tạp đòi hỏi dữ liệu gốc, chưa qua xử lý nhiều.  
    • Phục vụ các tác vụ phân tích khám phá (exploratory analysis), nơi các nhà khoa học dữ liệu muốn tự do tìm tòi, khám phá dữ liệu mà không bị giới hạn bởi một cấu trúc định sẵn.
    • Xử lý Big Data và các luồng dữ liệu thời gian thực (streaming data).  
  • Người dùng: Người dùng chính của Data Lake là các Nhà khoa học dữ liệu (Data Scientists)Kỹ sư dữ liệu (Data Engineers). Họ là những người cần truy cập vào dữ liệu gốc, đa dạng và có các công cụ để xử lý, phân tích dữ liệu này (ví dụ: Python với thư viện Pandas, Scikit-learn; R; Apache Spark…). Các Business Analysts cũng có thể sử dụng dữ liệu từ Data Lake, nhưng thường là sau khi dữ liệu đã được xử lý và đưa vào một lớp có cấu trúc hơn (ví dụ: thông qua Data Lakehouse hoặc các công cụ truy vấn SQL-on-Lake).  
  • Lợi ích:
    • Linh hoạt (Flexibility): Có thể lưu trữ mọi loại dữ liệu mà không cần định nghĩa schema trước.
    • Chi phí thấp (Low Cost): Tận dụng các giải pháp lưu trữ rẻ tiền, đặc biệt là trên cloud.  
    • Khả năng mở rộng (Scalability): Dễ dàng mở rộng dung lượng lưu trữ khi dữ liệu tăng lên.  
    • Hỗ trợ đa dạng công cụ: Có thể sử dụng nhiều loại công cụ và framework phân tích khác nhau trên cùng một dữ liệu.  
  • Thách thức – Nguy cơ “Đầm lầy dữ liệu” (Data Swamp): Chính sự linh hoạt của Data Lake cũng là con dao hai lưỡi. Nếu không có quy trình quản lý, kiểm soát chất lượng và tài liệu hóa (metadata management) tốt, Data Lake rất dễ biến thành một “đầm lầy dữ liệu” – một nơi chứa đầy dữ liệu không rõ nguồn gốc, chất lượng kém, trùng lặp, khó hiểu và không thể sử dụng được. Việc quản trị (governance) trong Data Lake là một thách thức lớn.  

Sự ra đời của Data Lake đã thực sự trở thành yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của Khoa học dữ liệu và Học máy trong môi trường doanh nghiệp. Các mô hình ML phức tạp thường “thích” dữ liệu thô, nơi chúng có thể tự mình khám phá các đặc trưng (features) và mẫu hình mà con người có thể bỏ qua hoặc loại bỏ trong quá trình Transform của ETL vào Data Warehouse. Data Lake cung cấp chính xác nguồn “nguyên liệu” đa dạng, khổng lồ và linh hoạt đó, cho phép các Data Scientist tự do thử nghiệm, xây dựng và huấn luyện các mô hình dự đoán, phân loại, gợi ý… mà không bị giới hạn bởi cấu trúc cứng nhắc của Data Warehouse truyền thống.

So sánh nhanh: Data Lake, Database, Data Warehouse

Đặc điểmDatabase (Cơ sở dữ liệu)Data Warehouse (Kho dữ liệu)Data Lake (Hồ dữ liệu)
Mục đích chínhXử lý giao dịch trực tuyến (OLTP), hoạt động hàng ngàyPhân tích kinh doanh (BI), báo cáo quản trị, hỗ trợ ra quyết định (OLAP) Lưu trữ mọi loại dữ liệu thô, Khoa học dữ liệu, Học máy, phân tích khám phá, Big Data
Loại dữ liệuChủ yếu có cấu trúc (Structured) Có cấu trúc, bán cấu trúc (Đã được xử lý, tích hợp) Mọi loại: Có cấu trúc, bán cấu trúc, phi cấu trúc (Structured, Semi-structured, Unstructured)
Cấu trúc dữ liệu (Schema)Schema-on-Write (Định nghĩa trước, cứng nhắc) Schema-on-Write (Định nghĩa trước, hướng chủ đề) Schema-on-Read (Linh hoạt, áp dụng khi đọc)
Cách xử lý dữ liệuTối ưu cho đọc/ghi/cập nhật/xóa nhanh các bản ghi nhỏTối ưu cho các truy vấn phức tạp, quét lượng lớn dữ liệu lịch sử (ETL/ELT trước khi tải) Lưu trữ dữ liệu thô, xử lý linh hoạt khi cần (Thường là ELT)
Người dùng chínhKỹ sư Backend, Ứng dụng Chuyên viên phân tích (Business Analysts), Nhà quản lý Nhà khoa học dữ liệu (Data Scientists), Kỹ sư dữ liệu (Data Engineers)
Tốc độ truy vấnRất nhanh (cho giao dịch nhỏ) Nhanh (cho truy vấn phân tích đã tối ưu) Có thể chậm hơn (tùy công cụ và tối ưu hóa, ưu tiên lưu trữ rẻ)
Tính linh hoạtThấp Trung bình (Khó thay đổi schema) Cao
Chi phí lưu trữTùy thuộc vào quy mô, có thể cao Thường cao Thấp (Thiết kế cho lưu trữ rẻ)
Ví dụ điển hìnhQuản lý tài khoản người dùng, đơn hàng online Phân tích doanh thu theo quý, báo cáo hiệu quả marketing Huấn luyện mô hình gợi ý sản phẩm, phân tích sentiment từ mạng xã hội, xử lý dữ liệu IoT

Ai/Vai trò nào làm việc với các hệ thống thông tin này?

Để những dữ liệu phức tạp này có thể được xây dựng, vận hành trơn tru và thực sự mang lại giá trị cho tổ chức, không thể thiếu vai trò của những con người với các kỹ năng chuyên môn khác nhau. Sự phát triển của các kiến trúc dữ liệu cũng kéo theo sự chuyên môn hóa ngày càng cao của các vị trí công việc trong lĩnh vực này.

  • Backend Engineer (Kỹ sư Backend / Lập trình viên Backend): Đây là những người thường làm việc trực tiếp nhất với các Database truyền thống (OLTP). Nhiệm vụ chính của họ là xây dựng và duy trì phần “hậu trường” (backend) của các ứng dụng web hoặc mobile – chính là những ứng dụng tạo ra và tiêu thụ dữ liệu hàng ngày. Họ viết code để ứng dụng có thể đọc, ghi, cập nhật và xóa dữ liệu trong database một cách chính xác, hiệu quả và an toàn, đảm bảo các giao dịch OLTP diễn ra suôn sẻ.  
  • Business Analyst (Chuyên viên phân tích nghiệp vụ / kinh doanh – BA): BA là những người dùng của Data Warehouse. Họ là cầu nối giữa bộ phận kinh doanh và kỹ thuật. Sử dụng dữ liệu đã được làm sạch và tích hợp trong Data Warehouse, BA thực hiện các phân tích, tạo ra các báo cáo trực quan (dashboards), khám phá các xu hướng kinh doanh và cung cấp những insight giá trị giúp ban lãnh đạo đưa ra các quyết định sáng suốt hơn (hoạt động Business Intelligence – BI). Họ cần hiểu rõ về nghiệp vụ kinh doanh và có kỹ năng sử dụng các công cụ BI như Tableau, Power BI cũng như SQL để truy vấn dữ liệu.  
  • Data Scientist (Nhà khoa học dữ liệu): Đây là những “nhà thám hiểm” của thế giới dữ liệu, thường làm việc nhiều nhất với Data Lake (nhưng cũng có thể khai thác cả Data Warehouse). Công việc của họ không chỉ dừng lại ở việc phân tích dữ liệu quá khứ mà còn đi sâu vào việc khám phá dữ liệu thô, áp dụng các thuật toán thống kê và Machine Learning (Học máy) để xây dựng các mô hình dự đoán, phân loại, phát hiện bất thường, hoặc tìm ra những insight hoàn toàn mới lạ mà con người khó nhận biết. Họ cũng có thể tạo ra các tính năng sản phẩm dựa trên dữ liệu, ví dụ như hệ thống gợi ý sản phẩm “người mua X cũng mua Y” trên các trang thương mại điện tử. Họ cần nền tảng vững chắc về toán, thống kê, lập trình (thường là Python hoặc R) và kiến thức về các thuật toán ML.  
  • Data Engineer (Kỹ sư dữ liệu): Có thể nói Data Engineer là những người “thợ xây” chính của toàn bộ hạ tầng dữ liệu. Vai trò của họ cực kỳ quan trọng, đảm bảo “dòng chảy” dữ liệu được thông suốt và hiệu quả. Họ chịu trách nhiệm thiết kế, xây dựng, kiểm thử và bảo trì các “đường ống” ( dữ liệu (data pipelines), bao gồm cả việc triển khai quy trình ETL/ELT để di chuyển và biến đổi dữ liệu từ các hệ thống nguồn (OLTP) vào Data Warehouse hoặc Data Lake. Họ đảm bảo dữ liệu luôn sẵn sàng, đáng tin cậy và có thể truy cập được cho các Data Analyst và Data Scientist sử dụng. Kỹ năng cần thiết bao gồm lập trình, hiểu biết về các hệ thống database, data warehouse, data lake, các công cụ ETL và các nền tảng Big Data.  
  • Analytics Engineer (Kỹ sư phân tích): Đây là một vai trò tương đối mới nhưng đang ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh của Modern Data Stack (Ngăn xếp dữ liệu hiện đại). Analytics Engineer hoạt động ở lớp trung gian, nối liền khoảng cách giữa Data Engineer và Data Analyst/Scientist. Trong khi Data Engineer tập trung vào việc xây dựng hạ tầng và đưa dữ liệu thô vào Lake/Warehouse, Analytics Engineer lại tập trung vào việc biến đổi (transform) dữ liệu thô đó thành những bộ dữ liệu (data models) sạch sẽ, có cấu trúc tốt, dễ hiểu, đáng tin cậy và được tối ưu hóa cho mục đích phân tích và báo cáo BI. Họ thường là những người rất giỏi SQL, thành thạo các công cụ mô hình hóa dữ liệu như dbt (data build tool), và có hiểu biết tốt về nhu cầu phân tích của nghiệp vụ.  

Một số xu hướng mới

  • Data Lakehouse: Như mình đã nhắc đến ở phần so sánh, Data Lakehouse là một kiến trúc lai đầy hứa hẹn, đang thu hút nhiều sự chú ý. Mục tiêu của nó là kết hợp những ưu điểm tốt nhất của cả Data Warehouse và Data Lake vào một nền tảng duy nhất. Cụ thể, nó cố gắng mang lại sự linh hoạt và chi phí thấp của Data Lake (lưu trữ mọi loại dữ liệu trên bộ nhớ rẻ tiền như object storage) cùng với các tính năng quản lý dữ liệu mạnh mẽ của Data Warehouse như cấu trúc dữ liệu (schema enforcement), đảm bảo tính toàn vẹn giao dịch (ACID transactions), quản trị dữ liệu (data governance) và hiệu năng truy vấn SQL cao. Bằng cách này, Data Lakehouse hướng tới việc đơn giản hóa kiến trúc dữ liệu tổng thể, giảm thiểu việc sao chép dữ liệu giữa Lake và Warehouse, và cho phép nhiều loại workload khác nhau (từ BI, SQL analytics đến Data Science, ML) cùng hoạt động hiệu quả trên một bản sao dữ liệu duy nhất.  
  • DataOps: Lấy cảm hứng từ thành công của DevOps trong lĩnh vực phát triển phần mềm, DataOps ra đời với mục tiêu áp dụng các nguyên tắc tương tự vào toàn bộ vòng đời của dữ liệu, từ khâu thu thập, xử lý, đến phân tích và cung cấp insight. DataOps nhấn mạnh vào Tự động hóa (Automation) các quy trình dữ liệu (như kiểm thử, triển khai pipeline), Giám sát (Monitoring) liên tục chất lượng và hiệu năng dữ liệu, và thúc đẩy Hợp tác (Collaboration) chặt chẽ giữa các nhóm liên quan (Data Engineers, Analysts, Scientists, nghiệp vụ). Mục tiêu cuối cùng của DataOps là tăng tốc độ đưa dữ liệu và insight đến người dùng, cải thiện chất lượng và độ tin cậy của dữ liệu, đồng thời giảm thiểu lỗi và các công việc thủ công lặp đi lặp lại.  
  • Reverse ETL: Nếu như ETL/ELT truyền thống tập trung vào việc đưa dữ liệu VÀO Data Warehouse hoặc Data Lake để phân tích, thì Reverse ETL lại làm điều ngược lại. Nó lấy những dữ liệu đã được xử lý, làm giàu, hoặc những insight giá trị (ví dụ: điểm số khách hàng tiềm năng, phân khúc khách hàng, dự đoán churn rate) từ chính Data Warehouse/Lakehouse và đẩy chúng TRỞ LẠI các hệ thống hoạt động hàng ngày mà các bộ phận nghiệp vụ thường xuyên sử dụng, như hệ thống CRM (Quản lý quan hệ khách hàng), công cụ Marketing Automation, nền tảng quảng cáo, hay công cụ hỗ trợ khách hàng. Việc này giúp “kích hoạt” dữ liệu phân tích, biến insight thành hành động cụ thể một cách nhanh chóng và tự động, giúp các nhóm Sales, Marketing, Customer Success… có thể cá nhân hóa tương tác, tối ưu chiến dịch và cải thiện trải nghiệm khách hàng dựa trên dữ liệu cập nhật nhất.  
  • Data Products & Data Mesh: Đây là một xu hướng mang tính chiến lược và tổ chức hơn là chỉ về công nghệ. Nó đề xuất một cách tiếp cận mới trong việc quản lý và chia sẻ dữ liệu trong các tổ chức lớn, đặc biệt là những nơi có nhiều bộ phận nghiệp vụ (domains) khác nhau. Thay vì tập trung tất cả dữ liệu và đội ngũ data vào một nhóm trung tâm (thường dẫn đến tắc nghẽn), kiến trúc Data Mesh đề xuất phân tán quyền sở hữu và trách nhiệm quản lý dữ liệu về cho chính các nhóm nghiệp vụ (domain teams) – những người hiểu rõ nhất về dữ liệu của mình. Mỗi domain team sẽ chịu trách nhiệm biến dữ liệu của họ thành các “Sản phẩm dữ liệu” (Data Products). Một Data Product không chỉ là dữ liệu thô, mà là một đơn vị logic hoàn chỉnh, bao gồm dữ liệu đã được làm sạch, mô hình hóa, có tài liệu rõ ràng, đáng tin cậy, dễ khám phá, dễ truy cập (thông qua các cổng ra – output ports được định nghĩa tốt) và có chủ sở hữu chịu trách nhiệm về chất lượng. Cách tiếp cận này nhằm mục đích tăng cường khả năng mở rộng, tính linh hoạt, chất lượng dữ liệu và giúp dữ liệu thực sự trở thành tài sản được quản lý tốt như các sản phẩm phần mềm khác trong tổ chức.  

Để tổng kết lại một cách ngắn gọn nhất, bạn có thể nhớ:

  • Database (Cơ sở dữ liệu): Lựa chọn hàng đầu cho các hoạt động hàng ngày, cần xử lý giao dịch nhanh chóng, đáng tin cậy với dữ liệu có cấu trúc. Nó là trái tim của các ứng dụng OLTP.
  • Data Warehouse (Kho dữ liệu): Ngôi nhà lý tưởng cho việc phân tích kinh doanh (BI), tạo báo cáo quản trị, khám phá insight từ dữ liệu lịch sử đã được tích hợp và làm sạch, chủ yếu là dữ liệu có cấu trúc. Nó là trung tâm của các hệ thống OLAP.
  • Data Lake (Hồ dữ liệu): Giải pháp tối ưu khi bạn cần lưu trữ mọi loại dữ liệu (bao gồm cả phi cấu trúc) ở dạng thô, với chi phí thấp và quy mô lớn, phục vụ cho các nhu cầu phân tích nâng cao, Khoa học dữ liệu và Học máy.

Tối ưu SEO website CSR (React, Angular) bằng kĩ thuật PreCrawl

Gần đây, mình có phải gặp một bài toán khá hay, với nhu cầu là thiết kế một blog với 3 tiêu chí

  • Quản Lý Nội Dung Động: Các bài viết, tag, category cần được động, có thể quản lý (thêm sửa xoá mới) hoàn toàn trên giao diện để cho những người không rành về công nghệ cũng có thể vận hành được
  • Miễn phí: Quan trọng nhất, không được mất phí cho bất kì phần nào của hệ thống, đây là yêu cầu quan trọng nhất, vì cái này sẽ phục vụ cho 1 số tổ chức có kinh phí eo hẹp, hoặc cho cá nhân viết blog theo sở thích, … và không mong muốn chi thêm 1 khoản phí cho website (tất nhiên là không tính tới domain)
  • SEO: Website phải tốt cho SEO

Disclaimer: Đây không phải là một bài toán của blog mình, hiện tại blog của mình đang sử dụng WordPress, và nó tốn chi phí hàng tháng, nhưng cũng đáp ứng đủ các nhu cầu của mình.

Nếu cần Solution tối ưu nhất, hãy đi đến hướng đi cuối

Hướng đi 1: Static Site Generator (SSG)

Hướng tiếp cận đầu tiên của mình là sử dụng 1 opensource sinh ra các trang tĩnh cho blog, sau đó deploy bản được build ra lên một số trang cho host trang tĩnh miễn phí như Firebase Hosting, Github Page, …

Giải pháp này thì đã có rất nhiều open source, bạn có thể tham khảo tại đây, dưới mục Blog: https://github.com/myles/awesome-static-generators#blogs

Nhìn chung luồng này sẽ dạng như sau

  • Người dùng sẽ viết bài ở dạng Markdown, hoặc có thể là viết ở Notion, …
  • Sẽ cần 1 cái gì đó trigger thực hiện build khi viết bài xong, có thể là ci/cd tự động khi push markdown ở github, hoặc ở notion có lắng nghe sự kiện
  • Lúc này hệ thống sẽ build ra bản trang tĩnh, và có thể được deploy lên các trang hosting cho phép deploy trang tĩnh
image - quochung.cyou PTIT
image 1 - quochung.cyou PTIT
  • Ví dụ: Hexo – Viết các file markdown, khi chạy generate sẽ sinh folder build

Pros

  • Miễn phí
  • SEO tốt
  • Có thể viết động, người dùng vận hành vào viết bài được nếu mà CI-CD đã làm hết -> Tuy nhiên vẫn chưa ở mức cao nhất là có trang quản lý riêng như mong muốn ban đầu lắm

Cons:

  • Đa số các giải pháp đều cần build lại ra trang tĩnh mỗi lần sửa đổi, và khi số lượng bài viết tăng lên thì càng tốn thời gian hơn.
  • Khi cần sửa đổi bài viết, thêm bài viết đều cần build lại, chưa thể vào xem thử tức thì
  • Chưa có giao diện quản lý trực quan

Hướng đi 2: NextJS

Một hướng đi thứ 2 để tối ưu SEO là sử dụng 1 framework server side rendering, có khá nhiều framework như vậy. Điển hình là NextJS.

Ta có thể sử dụng 1 database miễn phí, query bằng api để hỗ trợ trang web động.

Tuy nhiên NextJS nếu muốn build ra các dạng trang tĩnh, để có thể deploy free trên các trang host tĩnh như Github Page, Firebase Hosting, …. thì bắt buộc sẽ cần render toàn bộ trước.

Cụ thể sẽ cần sử dụng  getStaticPaths, và lúc thời điểm build ra bản output, thì sẽ cần query toàn bộ bài viết ở database, và build.

image 2 - quochung.cyou PTIT

Pros

  • Miễn phí
  • SEO tốt
  • Có thể viết động, chỉnh sửa động bằng giao diện do có thể code call api vào database động

Cons:

  • Thời gian build cực kì lâu, vì đa số các hosting free static site sẽ xoá toàn bộ file mỗi lần upload lên, và mỗi lần build thì cần build toàn bộ.

Hướng đi 3 – Solution: Pre-Crawl

Ở cách làm này, ta sẽ sử dụng CSR truyền thống để khi người dùng lướt web, sẽ đọc bài viết, dữ liệu được load động từ API. Và việc tạo bài viết, chuyên mục, … được admin vận hành tạo từ trang quản trị, cũng sẽ thực hiện qua API Database, ở đây sử dụng API Supabase

Mấu chốt là ví dụ như nếu sử dụng React, thì SEO sẽ rất kém, vì React đi theo dạng sử dụng đa số là JS và để JS build ra HTML. Nên các bot crawl của Google, Bing, … khi vào trang web nếu không chạy được js sẽ không load ra dữ liệu gì cả

Ví dụ hình ảnh một trang web sử dụng CSR sẽ trông như nào với Bot qua http://botsimulator.com/:

  • Kết quả nhận được, bot không lấy được dữ liệu gì cả, chỉ có tên trang web, keyword, desc, … đều rỗng
image 3 - quochung.cyou PTIT
image 5 - quochung.cyou PTIT

Phương án đề ra là ta sẽ sử dụng một luồng nghiệp vụ khác, riêng biệt, chuyên thực hiện việc đi vào các trang web như người dùng mở browser vào web vậy, sau đó cache lại các dữ liệu html vào 1 trang lưu tĩnh, lúc này khi Bot tới, ta sẽ có 1 tầng proxy kiểm tra xem có phải là Bot không, và redirect Bot sang trang tĩnh html đã được xử lý xong, còn người dùng thì đi luồng thông thường.

Có thể nhìn biểu đồ sau với các công nghệ sử dụng:

  • Proxy bên trên xử lý redirect: Cloudflare Worker Route + Cloudflare Worker
  • Lưu trữ HTML: Supabase Storage
  • Trang tĩnh: lưu trữ tại Cloudflare Page, dev bằng React
  • Thực hiện crawl trang web: Github Action
  • Database + API động bài viết: Supabase Database
image 7 - quochung.cyou PTIT

Kết quả nhận được:

  • Bot sẽ crawl được các dữ liệu trong bài viết (Trong ảnh ở phần Indexable Page Text)
image 4 - quochung.cyou PTIT
image 6 - quochung.cyou PTIT

Pros

  • Miễn phí
  • SEO tốt
  • Có thể viết động, chỉnh sửa động bằng giao diện do có thể code call api vào database động
  • Build nhanh, do trang build ra là trang csr chỉ chứa code call api cho user <- Xử lý được hướng đi 1,2

Cons:

  • Sẽ cần flow crawl dữ liệu, cái này thì có thể chạy bằng manual cũng được, mình sử dụng 1 workflow trên Github Action để crawl, Github Action sẽ free 2200 phút / tháng (khoảng chạy được 1 tiếng /ngày, vì vậy sẽ cần triển khai logic dạng kiểm tra có nên crawl lại 1 trang không bằng thời gian cập nhật, … tuỳ vào nghiệp vụ)

Code triển khai + chi tiết setup với techstack bên trên

https://github.com/quochung-cyou/csr-seo-page-crawl

Save Google OAuth2 token in database with Spring Boot

Following this official document from Google: https://developers.google.com/api-client-library/java/google-api-java-client/oauth2

When integrating Google OAuth 2.0 with your Spring Boot application, the official documentation provides a comprehensive guide to leverage the GoogleCredential utility class for seamless and secure authorization. OAuth 2.0 is the industry standard for granting access to protected resources, and Google’s implementation is tailored to support various application types, ensuring flexibility across client environments.

Why OAuth 2.0 Matters

Imagine you’re building a task management application that needs to interact with a user’s Google Tasks data. OAuth 2.0 allows your app to request access only to the necessary data (e.g., “Manage your tasks”) while ensuring that the user maintains control over their privacy. The process generates an access token, which is a digital key tied specifically to your application and the user’s data. This token is scoped, meaning it limits the type and extent of access granted, thereby enhancing security. For instance, even if the token were somehow exposed, it couldn’t be used to access unrelated data like emails or photos.

Built on a Secure Foundation

The Google API Client Library for Java includes robust OAuth 2.0 packages such as:

  • com.google.api.client.googleapis.auth.oauth2: Core classes for implementing OAuth 2.0 flows.
  • com.google.api.client.googleapis.extensions.appengine.auth.oauth2: Specialized extensions for applications hosted on Google App Engine.

These packages are built on the Google OAuth 2.0 Client Library for Java, a general-purpose library offering standardized utilities to handle token acquisition, refresh, and expiration seamlessly.

A Real-World Perspective

Consider an example where a SaaS platform integrates with Google Drive to allow users to upload documents directly from their accounts. With OAuth 2.0, users authenticate their Google accounts through a secure flow, and the platform receives an access token to interact with Google Drive APIs. Instead of continuously requesting sensitive credentials, the platform uses this token to upload or retrieve files, keeping user data secure and operations streamlined.

By utilizing the detailed guidelines in Google’s documentation, you can ensure that your Spring Boot application adheres to best practices for secure OAuth 2.0 integration, offering a smooth user experience while protecting sensitive information.

Acquiring the Client Secret File

To begin integrating Google OAuth 2.0 into your application, the first crucial step is setting up a project on the Google API Console. This console serves as the central hub for managing authorization credentials, configuring API access, and ensuring proper billing setup. Whether your application runs on a web server, mobile device, desktop client, or directly in a browser, this setup process is essential.

Setting Up Credentials

Navigate to the Google API Console and create a new project. Once the project is set up, you can enable the desired APIs and generate the OAuth 2.0 client credentials, which include:

  • Client ID: Uniquely identifies your application during the authorization process.
  • Client Secret: A sensitive key used to authenticate your application, ensuring secure communication with Google’s servers.
  • Redirect URIs: Specify where Google will send users after they complete the authorization flow.

For detailed guidance on configuring these elements, refer to the API Console Help.

Setup a Authorization code flow

Use the authorization code flow to allow the end-user to grant your application access to their protected data on Google APIs. The protocol for this flow is specified in Authorization Code Grant.

This flow is implemented using GoogleAuthorizationCodeFlow. The steps are:

Code implementation is like this

image - quochung.cyou PTIT

Understanding the DataStoreFactory in GoogleAuthorizationCodeFlow.Builder

When constructing a GoogleAuthorizationCodeFlow object, one of the essential components is the DataStoreFactory. This factory is responsible for persisting user credentials securely and efficiently. Google provides three types of built-in implementations, each suited for different use cases:

Implementing a Custom Data Store to Persist Tokens in a Database

To persist OAuth2 tokens in a database, we need to create a custom implementation of the DataStoreFactory and DataStore classes provided by Google’s OAuth2 library. Here’s a step-by-step guide:


Step 1: Create a Custom DataStoreFactory

The custom factory is responsible for creating instances of your DataStore. Extend AbstractDataStoreFactory to implement this logic.

Java
import com.google.api.client.util.store.AbstractDataStoreFactory;
import com.google.api.client.util.store.DataStore;

import java.io.IOException;
import java.io.Serializable;

public class DatabaseDataStoreFactory extends AbstractDataStoreFactory {

    private TokenDatabaseRepository tokenDatabaseRepository;

    public DatabaseDataStoreFactory(TokenDatabaseRepository tokenDatabaseRepository) {
        this.tokenDatabaseRepository = tokenDatabaseRepository;
    }

    @Override
    protected <V extends Serializable> DataStore<V> createDataStore(String id) throws IOException {
        return new DatabaseDataStore<>(this, id, tokenDatabaseRepository);
    }
}

Step 2: Implement the Custom DataStore

This class handles token persistence logic. Extend AbstractDataStore and implement the required methods like set(), get(), delete(), etc.

Java
import com.google.api.client.util.store.AbstractDataStore;
import com.google.api.client.util.store.DataStore;
import com.google.api.client.util.store.DataStoreFactory;

import java.io.IOException;
import java.io.Serializable;
import java.util.Collection;
import java.util.Set;

public class DatabaseDataStore<V extends Serializable> extends AbstractDataStore<V> {

    private final TokenDatabaseRepository<V> tokenDatabaseRepository;

    protected DatabaseDataStore(DataStoreFactory dataStoreFactory, String id, TokenDatabaseRepository<V> tokenDatabaseRepository) {
        super(dataStoreFactory, id);
        this.tokenDatabaseRepository = tokenDatabaseRepository;
    }

    @Override
    public int size() throws IOException {
        return tokenDatabaseRepository.size();
    }

    @Override
    public boolean isEmpty() throws IOException {
        return tokenDatabaseRepository.isEmpty();
    }

    @Override
    public boolean containsKey(String key) {
        return tokenDatabaseRepository.containsKey(key);
    }

    @Override
    public boolean containsValue(V value) {
        return tokenDatabaseRepository.containsValue(value);
    }

    @Override
    public Set<String> keySet() throws IOException {
        return tokenDatabaseRepository.keySet();
    }

    @Override
    public Collection<V> values() throws IOException {
        return tokenDatabaseRepository.values();
    }

    @Override
    public V get(String key) throws IOException {
        return tokenDatabaseRepository.get(key);
    }

    @Override
    public DataStore<V> set(String key, V value) throws IOException {
        tokenDatabaseRepository.set(key, value);
        return this;
    }

    @Override
    public DataStore<V> clear() {
        tokenDatabaseRepository.clear();
        return this;
    }

    @Override
    public DataStore<V> delete(String key) throws IOException {
        tokenDatabaseRepository.delete(key);
        return this;
    }
}

Step 3: Create the TokenRepository Interface

Leverage Spring Data JPA to handle database interactions.

Java
public interface TokenDatabaseRepository<V> {
    int size();

    boolean isEmpty();

    boolean containsKey(String key);

    boolean containsValue(V value);

    Set<String> keySet();

    Collection<V> values();

    V get(String key);

    TokenDatabaseRepository<V> set(String key, V value);

    TokenDatabaseRepository<V> clear();

    void delete(String key);


}
Java
@Repository
@RequiredArgsConstructor
public class TokenDatabaseRepositoryImpl implements TokenDatabaseRepository<StoredCredential> {

    private final TokenRepositorySql tokenRepositorySql;
    private final GoogleAuthItemMapper googleAuthItemMapper;

    @Override
    public int size() {
        return (int) tokenRepositorySql.count();
    }

    @Override
    public boolean isEmpty() {
        return tokenRepositorySql.count() == 0;
    }

    @Override
    public boolean containsKey(String key) {
        return tokenRepositorySql.existsByKey(key);
    }

    @Override
    public boolean containsValue(StoredCredential value) {
        var googleAuthItem = googleAuthItemMapper.from(value);
        return tokenRepositorySql.existsByAccessTokenAndRefreshToken(googleAuthItem.getAccessToken(), googleAuthItem.getRefreshToken());
    }

    @Override
    public Set<String> keySet() {
        return tokenRepositorySql.findAll().stream()
                .map(GoogleAuthItem::getKey)
                .collect(Collectors.toSet());
    }

    @Override
    public Collection<StoredCredential> values() {
        return tokenRepositorySql.findAll().stream()
                .map(googleAuthItemMapper::to)
                .collect(Collectors.toList());
    }

    @Override
    public StoredCredential get(String key) {
        Optional<GoogleAuthItem> optionalGoogleAuthItem = tokenRepositorySql.findById(key);
        return optionalGoogleAuthItem.map(googleAuthItemMapper::to).orElse(null);
    }

    @Override
    @Transactional
    public TokenDatabaseRepository<StoredCredential> set(String key, StoredCredential value) {
        var googleAuthItem = googleAuthItemMapper.from(value);
        googleAuthItem.setKey(key);
        tokenRepositorySql.save(googleAuthItem);
        return this;
    }

    @Override
    @Transactional
    public TokenDatabaseRepository<StoredCredential> clear() {
        tokenRepositorySql.deleteAll();
        return this;
    }

    @Override
    public void delete(String key) {
        tokenRepositorySql.deleteByKey(key);
    }
}
Java
public interface TokenRepositorySql extends JpaRepository<GoogleAuthItem, String> {

    boolean existsByKey(String key);

    boolean existsByAccessTokenAndRefreshToken(String accessToken, String refreshToken);

    void deleteByKey(String key);

}

Register a custom function in Camunda 7 with Spring Boot

Introduction to Camunda 7

image 2 - quochung.cyou PTIT

Camunda 7 is a powerful, open-source platform designed for workflow and process automation. It offers a comprehensive suite of tools for managing business processes, including capabilities for modeling, automating, and optimizing workflows.

Before Camunda BPM 7.18

In both approaches, you need to register your method via the function mapper. If you want to call a method from a bean using an expression like ${myBean.method()}, the process happens automatically without any additional code. However, if you prefer to use the method in the format ${runner:method()} or ${method()}, here’s how you can do it.

In the ProcessEngineConfigurationImpl class provided by Camunda, you’ll find the ExpressionManager. This class exposes all the necessary methods for you to use.

image 11 - quochung.cyou PTIT
image 12 - quochung.cyou PTIT

To register a new function mapper, you need to create a class that implements the FunctionMapper interface. Here’s a sample implementation to get you started.

image 13 - quochung.cyou PTIT

Now, you can create a process engine plugin to initialize the function mapper when Camunda’s process engine starts configuring.

image 14 - quochung.cyou PTIT

Now you can use ${jsonPath(a, b) in workflow

After Camunda BPM 7.18

After Camunda 7.18, the addFunctionMapper function was removed. You might need an alternative workaround, and this link might be helpful for you.

https://forum.camunda.io/t/how-do-i-add-functionmappers-to-expressionmanager-in-7-18/40466/2

Chuẩn hoá Database vs Đảo chuẩn hoá Database (Database Normalization vs. Denormalization), case study của Instagram

Chuẩn hoá Database là gì

  • Chuẩn hoá database (Database normalization) là một cách thức cấu trúc các dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu quan hệ theo một dạng chuẩn. Đơn giản thì, ta sẽ kết nối các thông tin giữa các bảng khác nhau bằng 1 key hay 1 id gì đó định danh 1 hàng.
  • Việc chuẩn hoá database giúp đảm bảo dữ liệu sẽ “chuẩn hơn”, giảm bớt các khả năng xảy ra một số hiện tượng dưới đây:

Một số vấn đề mà chuẩn hoá database giải quyết

  • Insertion anomaly (Khi thêm dữ liệu): Xảy ra khi một dữ liệu được thêm vào bảng nhưng không theo cấu trúc của bảng. Ví dụ, ta có một cột trong bảng người dùng là address, chứa địa chỉ người dùng. Tuy nhiên do không có ràng buộc gì cả, thì có thể có những người dùng địa chỉ là “xã, tỉnh, quốc gia”, có người lại là “số nhà, xã, tỉnh, quốc gia”, do dữ liệu ở 1 cột chỉ là 1 dạng text. 
  • Update anomaly (Khi cập nhật) xảy ra khi dữ liệu không được cập nhật ở mọi vị trí. Ví dụ, ta có 2 bảng là thông tin sinh viên và thông tin công dân. Cả 2 đều chỉ về 1 đối tượng, tuy nhiên do có 2 cột địa chỉ ở cả 2, thì khi cập nhật 1 cái, có thể địa chỉ của cái còn lại cũng nên được đồng bộ.
  • Deletion anomaly (Khi xoá): Do dữ liệu “địa chỉ” nếu nằm ở nhiều bảng khác nhau dù chung mục đích, khiến nếu muốn xoá một dữ liệu đi cần xoá ở nhiều vị trí hơn.

Ví dụ về chuẩn hoá Database

  • Giả sử ta có bảng sau để chứa các Assistant Principal, sẽ dạy các học sinh nào, lớp nào
image 25 - quochung.cyou PTIT
  • Ta thấy, ta đang lưu danh sách học sinh theo kiểu cách nhau bằng dấu phẩy, và tương tự với student id.
  • Có một số vấn đề có thể nhận thấy. Việc lưu như vậy khiến ta phải scale chiều dài dữ liệu cột Students theo số lượng sinh viên, và ví dụ, ta scale nó là một dung lượng nào đó là 10000 kí tự chẳng hạn, mà nhiều dòng lại không dùng tới 10000 kí tự => điều này vô hình chung làm dữ liệu của hàng bị phình to, chỗ nhiều chỗ ít, mà lại tốn tài nguyên để scale toàn bộ hàng có dữ liệu là 10000.
  • Ở mức chuẩn hoá 1NF, ta có thể tách bảng thành như sau
image 26 - quochung.cyou PTIT
  • Ta vẫn lưu được các dữ liệu cần thiết, và trong 1 ô đảm bảo không có lưu như vậy nữa
  • Tuy nhiên, ta nhận thấy, có nhiều hàng có dữ liệu trùng nhau, vd như Jack White, hay id của các Assistant Principal
  • Với ở dạng này, ta nhận thấy, nếu bảng có thêm nhiều trường hơn, to hơn nữa. Thì ta sẽ có rất nhiều hàng trùng dữ liệu thừa thãi, kiểu đều chung Class, Class ID, Assistant Principal Id, …. rất nhiều trường khác, chỉ khác nhau đúng trường Student Name và Student ID
image 27 - quochung.cyou PTIT
image 28 - quochung.cyou PTIT
  • Lúc này, ta sang mức chuẩn hoá 2NF. Ta sẽ nhìn chung vẫn như cách 1NF là có nhiều hàng tách ra để hiển thị dữ liệu. Tuy nhiên, ta chỉ nhớ chúng theo ID, rồi sau đó từ ID đó ta có thể lấy dữ liệu ở bảng riêng biệt dành riêng cho việc lưu trữ Student => Mà không gộp nó vào 1 chỗ nữa
  • Lúc này dữ liệu trùng và bị lặp chỉ có cột id, và nó nhẹ hơn nhiều
image 29 - quochung.cyou PTIT
image 30 - quochung.cyou PTIT
image 31 - quochung.cyou PTIT
  • Ở mức chuẩn hoá 3NF tiếp theo, ta đưa mọi dữ liệu về riêng bảng của nó. VD ta có bảng riêng chỉ lưu class, bảng riêng chỉ lưu student, …

Ưu điểm chuẩn hoá

  • Chuẩn hoá database nhìn chung giúp ta giảm bớt sự trùng lặp dữ liệu, dữ liệu dư thừa, bằng việc sử dụng nhiều bảng riêng biệt để lưu các dữ liệu cần thiết. Giúp dữ liệu gọn nhẹ, dễ nhìn hơn.
  • Chuẩn hoá cũng giúp ta giảm thiểu việc có các ô dữ liệu trống (null), vì ví dụ: Nếu ta có 1 bảng chỉ là ConNguoi, có cả cột lương thưởng (cho người đi làm), và tiền đóng học (cho sinh viên). Vậy sinh viên thì không có lương thưởng, còn người đi làm không có ô tiền đóng học. Ta có thể tách riêng bảng ra cho mục đích đó.

Đảo chuẩn hoá Database và case study của Instagram

Nhược điểm của chuẩn hoá

  • Vì lúc này dữ liệu bị phân tán ra, ta thường phải viết các câu query phức tạp hơn, gộp nhiều bảng vào với nhau để thao tác dữ liệu, việc này tăng độ phức tạp của hệ thống, cũng như giảm tốc độ vì phải đọc nhiều bảng khác nhau.
image 33 - quochung.cyou PTIT
  • Ví dụ với dữ liệu trên, để lấy danh sách sinh viên, hoặc số lượng sinh viên 1 Assistant Principal quản lý, ta chỉ cần 1 cột trong bảng, rồi select 1 row là được
  • Còn nếu tách riêng ra, ta phải join cả bảng Student vào, rồi select filter theo assistant id, và để đếm số lượng thì phải dùng count
  • Việc này được gọi là đảo chuẩn hoá database, nó có thể làm dữ liệu bị dư thừa và tạo ra nhiều vấn đề mà chuẩn hoá giải quyết, nhưng bù lại giúp cải thiện hiệu năng hệ thống

Ví dụ của Instagram về chuẩn hoá database

image 34 - quochung.cyou PTIT
image 36 - quochung.cyou PTIT
  • Ta có bảng users là thông tin người dùng. 1 bảng posts là các bài viết của người dùng, và bảng likes là chứa thông tin về các lượt like của 1 bài viết, gồm ai là người like bài viết đó.
  • Lúc này, để lấy tổng số like của bài viết, ta thường phải gọi lệnh vào bảng likes dạng
SELECT
    posts.id AS post_id,
    posts.title AS post_title,
    COUNT(likes.id) AS total_likes
FROM
    posts
LEFT JOIN
    likes ON posts.id = likes.post_id
WHERE
    posts.id = 1
GROUP BY
    posts.id, posts.title;
  • cơ bản thì nó cần join vào bảng likes, rồi tìm các likes thuộc id bài viết và đếm. Điều này nhìn chung nếu 1 bài viết có 1 triệu likes, thì ta phải đếm 1 triệu hàng, và có hàng tá bài viết như thế, và rất nhiều người cùng vào like, xem bài viết, mỗi khi cần hiển thị tổng số like, ta phải chạy lại lệnh kia, thứ mà rất tốn thời gian.
image 37 - quochung.cyou PTIT
  • Lúc này ta có thể áp dụng đảo chuẩn hoá, bằng việc đơn giản là sẽ thêm 1 cột total_likes để lưu trữ tổng lượng like của bài viết, ta vẫn cần bảng likes để khi người ta mở xem ai là người likes thì nó sẽ lưu trữ thông tin.
  • Hiển nhiên, việc này sẽ khiến việc quản lý và code sẽ phức tạp hơn để vừa có cơ chế chuẩn hoá, mà lại đảo chuẩn hoá 1 thuộc tính, nhưng nó giúp cho query database nhanh hơn rất nhiều.

Tham khảo:

[Phần 2] Session Token và JWT Token, Refresh Token, khi nào quyết định sử dụng, ưu và nhược điểm

This entry is part 2 of 2 in the series API Security

Bearer Token

image 19 - quochung.cyou PTIT
  • Lúc này, ta đã đang thực hiện giao tiếp với server qua token, có một câu hỏi đặt ra là, làm sao để gửi token đó cho phía server?
  • Hiển nhiên, ta có thể làm điều ở ở body của request, ở param, … hoặc ở cookie. Tuy nhiên, có một cách thông dụng và được sử dụng hầu hết hiện nay để chuyển 1 token không qua cookie đó là sử dụng dạng “Bearer” https://tools.ietf.org/html/rfc6750
  • Bearer lúc đầu được tạo ra nhằm phục vụ cho OAuth2 (sẽ nói thêm sau)
  • Để gửi 1 token qua api, ta chỉ cần để nó ở header Authorization
Authorization: Bearer QDAmQ9TStkDCpVK5A9kFowtYn2k
  • Việc sử dụng giao tiếp qua Authorization cũng cho phép ta sử dụng header WWW-Authenticate để giúp đầu api “thân thiện” với http hơn
  • WWW-Authenticate có thể theo kèm một tham số là “realm”, bạn có thể hiểu trường này như một trường nhằm định dang đầu api hiện tại. VD nếu realm = admin, thì client sẽ hiểu đầu api này cần token dành cho admin, nếu realm = users thì là các đầu api open cho user
  • Ngoài ra, ta cũng có thể thêm các thông báo về việc token hết hạn, sai, …
HTTP/1.1 401 Unauthorized
WWW-Authenticate: Bearer realm="users", error="invalid_token",
        error_description="Token has expired"
  • Phần này giúp phía client có thể biết là token đã hết hạn và yêu cầu tạo token mới
image 20 - quochung.cyou PTIT
  • Để lưu token ở phía client mà không cần sử dụng cookie, ta có thể sử dụng các bộ nhớ có sẵn của trình duyệt như
    • sessionStorage: Các thực thể có thể được lưu tại đây, bộ nhớ chỉ là tạm thời và bị xoá khi tab bị đóng
    • localStorage: Dữ liệu được lưu kể cả khi trình duyệt đóng và chỉ xoá nếu ta yêu cầu
  • Nghe sessionStorage giống với cookie, tuy nhiên sessionStorage sẽ không share giữa các tab với nhau. Tức là cookie sẽ share giữa các tab, nhưng chỉ chung 1 domain (tức là phân biệt bằng tên miền). Còn sessionStorage chỉ lưu trạng thái ở tab hiện tại

JWT Token

  • Ta đã đi qua cách authentication bằng sử dụng basic authentication, rồi đến token được lưu ở cookie hoặc local/session storage. Tuy nhiên các cách thức này đều yêu cầu token cũng phải được lưu ở phía server.
  • Tức là mỗi truy vấn vào server, ta lại phải gọi vào database, với hàng triệu, hàng tỉ token ngày càng tăng lên để kiểm tra xem token có tồn tại chưa, có hết hạn chưa, … Chưa kể đến ta còn phải giải mã token ra nếu ta mã hoá nó trong database (thường là có)
  • Việc này tạo thành một bài toán lớn và ngày càng khó giải khi số lượng user tăng cao
image 21 - quochung.cyou PTIT
  • Lúc này, có một giải pháp khác đã được tạo ra, đó là JWT (Json Web Token)
  • Định nghĩa: JWT hay JSON Web Token là một format thông dụng cho các token ở dạng “self-contained” (chỉ lưu ở client). JWT thường bao gồm các claims (các khẳng định rằng user này có gì, có kia) và các quyền của user. VD, JWT sẽ chứa là user có quyền được vào trang a, trang b, ….
  • JWT ngoài ra được mã hoá crypto để bảo vệ khỏi các vấn đề bảo mật liên quan

Lưu JWT ở phía Client

  • Bạn sẽ có câu hỏi: Làm sao để một token chỉ có thể lưu ở client mà không ở server, vậy thì làm sao ta biết là token nào là thoả mãn, chưa bị người khác sửa, thêm quyền kiểu admin vào và cầm token đó đi request server?
image 22 - quochung.cyou PTIT
  • Một trong các cách được đề ra có thể xem qua ảnh sau. Tức là khi phía server sinh ra 1 token thoả mãn, ta sẽ thêm 1 key (HMAC) vào đuôi của token.
  • Hmac được sinh ra từ claims và 1 đoạn key, điều này giúp kiểm tra nếu đoạn claims đã bị sửa đổi thì phần HMAC sẽ không trùng khớp nữa.
  • Điều này đảm bảo là người khác khi sửa gì đó thì sẽ không thoả mãn nữa do ta có phần đuôi tag để kiểm tra xem. (Server sẽ thử giải mã phần key xem có đúng với ban đầu không, key này chỉ server biết)
  • Cấu trúc JWT có 3 phần
    • Header: Chứa các thông tin về kiểu token này dùng mã hoá dạng gì, …
    • Claims: Phần chứa thông tin ta muốn để trong token, ví dụ quyền của user
    • HMAC Tag: Phần mã hoá đảm bảo tính toàn vẹn của token
image 22 - quochung.cyou PTIT
  • JWT trở lên ngày càng phổ biến ở những năm gần đây do JSON Web Tokens đã được tiêu chuẩn hoá vào 2015. (Trước đây ta gọi những token stateless bên trên là JSON Token). JWT là một chuẩn với chức năng tương tự như ý tưởng JSON Tokens ban đầu, nhưng có một số chức năng thêm:
    • Một quy định chung cho phần header chứa các thông tin kèm cho JWT, ví dụ như thuật toán mã hoá, …
    • Một số chuẩn chung về phần claims, là trường nào lưu gì, …
    • Nhiều thuật toán khác nhau để mã hoá và xác thực.
  • Tuy rằng JWT chỉ là một quy chuẩn định nghĩa tại https://tools.ietf.org/html/rfc7519, nó được xây dựng từ một tập hợp nhiều quy chuẩn được gọi là JSON Object Signing and Encryption (JOSE). JOSE chứa nhiều tiêu chuẩn sau:
  • Một token JWT cơ bản trông như sau:
image 20 - quochung.cyou PTIT
  • Sự linh hoạt của JWT cũng là điểm yếu lớn nhất của nó, nhiều cuộc tấn công đã xảy ra nhờ vào sự linh hoạt này. JOSE là một tập các phần thiết kế cho phép lập trình viên chọn từ nhiều thuật toán khác nhau, và không phải sự kết hợp nào cũng đem lại tính bảo mật tốt.
  • VD: Vào năm 2015, (http://mng.bz/awKz) Tim McClean đã tìm ra một lỗ hổng trong rất nhiều thư viện JWT về việc ở phần header, ta có thể sửa nó thành thuật toán khác, và thậm chỉ sửa nó thành “none”. Điều này vô tình bảo các thư viện JWT ở phía backend khi kiểm tra token đã không dùng thuật toán nào để kiểm tra mã hoá, và các phần claims bị sửa trái phép không bị phát hiện. (Hay còn được biết đến là JWT None Attack)

Paseto

image 21 - quochung.cyou PTIT
  • Các lỗi trong các quy chuẩn dẫn tới sự phát triển của các công cụ thay thế với hi vọng vẫn chứa các tính năng tương tự nhưng sẽ sửa một số vấn đề của bộ cũ.
  • Một ví dụ là Paseto, cung cấp các trình mã hoá đối xứng, khoá public, … hỗ trợ xử lý các vấn đề của Jose và các chuẩn JWT chung.
  • Điểm chung ngắn gọn giữa Paseto và Jose là thay vì cho phép lập trình viên mix giữa nhiều cấu phần khác nhau trong bộ Jose, Paseto chứa một bộ fix cứng chung về thuật toán (AESS, RSA, Ed25519, …), giúp giảm thiểu các vấn đề bảo mật xảy ra.

Một số chuẩn chung trong claims của JWT

Thông thường, phần claims sẽ có các mục sau:

issIssuerChỉ ra là ai đã tạo ra token này, thường là url của trang đã sinh token.
audAudienceChỉ ra token này dành cho ai, có thể là id của user, …
iatIssued-AtThời điểm token được tạo ra
nbfNot-BeforeToken bị cấm nếu dùng trước thời gian này. VD đặt là 2/1 mà dùng vào 1/1 thì không được
expExpiryThời điểm token hết hạn
subSubjectĐịnh danh chủ đề của token, thường là username, id hay gì đó
jtiJWT IDID không bị trùng của token, dùng để tra cứu sau này nếu cần

JWT trong Database, xoá token

image 23 - quochung.cyou PTIT
  • Các token stateless, chỉ cần ở client side là một cách hay để giảm bớt state khỏi database. Điều này giúp ta scale các api mà không cần nâng cấp nhiều phần cứng database hay phải triển khai nhiều việc hơn.
  • Tuy nhiên, việc lưu trữ token ở database lại cho phép ta có một quyền năng lớn, đó là có thể revoke, hay quyết định 1 token có hợp lệ hay không, bằng cách chỉ cần xoá nó khỏi database. Hiển nhiên, việc lưu ở database đi kèm rất nhiều vấn đề về scale, có thể là ta cần nhiều database token cho nhiều service nhỏ khác nhau, nếu ta tập trung nó lại, nó có thể là 1 điểm SPOF (Single Point of Failure), 1 điểm nghẽn trong toàn luồng và chỉ cần nó chết, toàn hệ thống sẽ ngỏm do không có khả năng authentication

  • Có một số cách để xử lý vấn đề này. Ta có thể lưu database, tuy nhiên không lưu toàn bộ token mà chỉ cần 1 id unique nào đó mà có thể link với 1 token, khi huỷ hợp lệ 1 token, ta chỉ cần huỷ id đó, khi token đó được gửi bởi client, ta sẽ giải mã ra id và kiểm tra. Điều này giúp ta giảm bớt phần nào đó về database
  • Một cách khác là, ta có thể chỉ lưu các token bị huỷ hợp lệ, hay danh sách đen. Khi token được gửi lên ,ta xem nó có trong danh sách đen hay không, thì sẽ từ chối token đó. Các token mà đã hết hạn sử dụng rồi có thể clean up dần đi, giúp database danh sách đen nhỏ
  • Một cách khác là thay vì block 1 token, ta có thể chỉ chặn 1 số chức năng ở 1 tập hợp tk. Ví dụ, ta thường có chức năng đăng xuất ở mọi thiết bị khác khi ta đổi mật khẩu, để làm điều này, ta có thể thêm vào database toàn bộ token của người dùng trước ngày nào đó đều bị xoá, điều này giúp giảm không gian cần cho database, nhưng đi kèm query phức tạp hơn.

Tham khảo:

  • API Security in Action
  • Modern API Architecture

Còn tiếp

[Phần 2] Sự phát triển của các mô hình hệ thống Backend (N-layered, DDD, Hexagon, Onion, Clean Architecture)

2005 — Hexagon (Ports and Adapters) (Khối lập phương – Cổng và bộ chuyển đổi)

  • Trước đó, các tầng của chúng ta chỉ đi từ trên xuống theo thứ tự. Với việc sử dụng dependency inversion, mọi thứ đều đã thay đổi
  • Đây như là một thế giới mới cho các kỹ sư phần mềm. Ta có thể kiểm soát được hướng của sự phụ thuộc theo cách ta muốn. Lúc này, business logic sẽ không gọi xuống tầng data access nữa. Để đọc thêm về dependency inversion, bạn có thể tham khảo bài sau:
1*B2f9ycR5sN6thAhCe0vfiA - quochung.cyou PTIT
1*1Hyocpa6Xpy mXqYeb zqw - quochung.cyou PTIT
1 PRLCk7qPIL PHT mNXw2cQ - quochung.cyou PTIT
  • Thay vì những layer hình chữ nhật như ban đầu, lúc này, ông đã vẽ một hình lục phương, trông có vẻ khá phức tạp hơn một cấu trúc đa tầng ban đầu, tuy nhiên nó lại khá đơn giản
  • Điều gì đã xảy ra trong hình minh hoạ trên? Như ta thấy, lúc này Domain đã là thành phần ở giữa và là trung tâm của toàn bộ hệ thống, nó không còn phụ thuộc vào bất kì thứ gì khác nữa
  • Để thể hiện việc tầng Domain đã là trung tâm, tầng Business Logic/Domain được đặt tên là Core
  • Các module khác được chia thành 2 phần. Lúc này, với 1 class thực hiện các công việc, ví dụ Repository làm việc với dữ liệu thì không chỉ còn là 1 class concrete mặc định nữa, mà được chia làm đôi thành phần ảo (interface) và phần triển khai thật sự (code logic class). Các phần interface định nghĩa các phương thức mà class logic cần triển khai được đặt tên là ports (cổng)
  • Các phần triển khai code thực tế nằm trong các module bên ngoài, và được gọi là adapters
  • Rõ ràng, ta thấy các logic Domain/Core của hệ thống giờ không còn phụ thuộc vào ai cả, vì nó là những chức năng mà hệ thống bắt buộc phải có, mọi module khác đều chỉ là gắn thêm vào, và phải triển khai các cổng (các interface) mà phần core đã định nghĩa sẵn.
image 3 - quochung.cyou PTIT

Ví dụ về port, adapter và core của hexagon architecture

  • Ta có, ví dụ như một chiếc laptop. Các cổng của nó là gì? Ta có cổng hdmi, cổng tai nghe 3.5, cổng sạc, cổng type c, cổng usb, ….
  • Rõ ràng, khi muốn thêm gì đó cho chiếc laptop, ví dụ ta muốn cắm thêm 1 tài nguyên lưu trữ dữ liệu vào, ta phải dùng 1 chiếc usb, hoặc 1 thẻ nhớ, và chúng phải có khuôn mẫu, đúng với quy chuẩn mà cái laptop đã quy định ra -> tôi có cổng usb như này, nếu muốn cắm gì vào thì phải theo khuôn như thế. Giống như việc, trong core đã có các interface, ta chỉ làm việc với các hàm của interface, module bên ngoài triển khai logic phải triển khai đúng theo bản khuôn mẫu, các hàm đó.
  • Ví dụ, nếu không dùng interface, nhà sản xuất usb lại tự tạo ra các đầu cắm khác nhau, giờ chẳng lẽ máy tính là một high-level module (một phần quan trọng hơn), lúc sản xuất lại phải theo cái đầu cắm của usb? Điều này không hợp lý
image 1 - quochung.cyou PTIT

Các ưu điểm rõ ràng

  • Lúc này các module bên ngoài cắm vào thường độc lập với nhau, và chúng dễ thay thế hơn. Ta đã định nghĩa trước ta cần gì trong core, giờ bên ngoài chỉ triển khai logic lại từ các yêu cầu đó. Nếu ta thay đổi cách gọi lấy dữ liệu từ việc gọi vào database sang đọc ghi trong file excel, ta chỉ thay đổi ở module, và vẫn là hàm getAll() mà core đã quy định. Tương tự với giao diện, cũng là module ngoài, cũng phải làm như vậy.
  • => Các module độc lập, dễ thay thế hơn, và phải tuân thủ các quy tắc của core logic
image 2 - quochung.cyou PTIT

2008 — Onion – Kiến trúc củ hành

image 4 - quochung.cyou PTIT
1 lRxsDk6eaUy9O4 RaVuJ1g - quochung.cyou PTIT
  • Nhìn chung, Onion Architecture vẫn khá tương đồng với Hexagon Architecture, tuy nhiên ở Hexagon, ta có 1 khối ở giữa và ta mong muốn các module chỉ như các thiết bị ngoài cắm vào ổ đó và tách biệt lẫn nhau. Còn ở Onion Architecture, ta có những tầng như những chiếc vòng, và tầng ở vòng bên ngoài phụ thuộc vào tầng bên dưới
image 6 - quochung.cyou PTIT
  • Theo 1 cách nhìn nào đó, Onion Architecture có một hướng phụ thuộc khá thẳng như N-Layered, nhưng thực tế ta vẫn áp dụng đảo sự phụ thuộc để cho phép tầng Domain hay Business là tầng dưới cùng của hệ thống
image 8 - quochung.cyou PTIT
  • Có một vài điểm thể hiện sự khác biệt ở đây. Là thay vì có 1 core quá lớn và mọi module đều phụ thuộc vào nó đôi khi có thể gây ra một số nhược điểm. Tức là 1 sự thay đổi trong core có thể khiến nhiều module khác nhau phải sửa đổi
  • Thay vì vậy, ta có một số tầng khác, ví dụ như ở ảnh trên là Application, sẽ wrap lại tầng Domain, Domain sẽ chứa những code mà có ít sự thay đổi, và Application có thể chứa nhiều logic và thường xuyên thay đổi nhiều hơn sẽ nằm ở bên trên.
  • Có thể cảm giác nó như tính đóng gói của OOP, khi mà những phần bên trong sẽ được wrap lại ở các tầng bên ngoài chứa nhiều logic hơn, và khi phần bên trong hoàn thiện sẽ chứa ít sự thay đổi hơn

2012 — Clean Architecture

image 9 - quochung.cyou PTIT
image 10 - quochung.cyou PTIT
image 11 - quochung.cyou PTIT
  • Nhìn chung, ta nhận thấy ta vẫn có 1 tầng chứa những phần về logic của Domain/Business, nay được đặt tên là Entities nằm trên cùng, và ta có các tầng khác thuộc module ngoài như Infra (Thường là data access của database), presentation (giao diện) phụ thuộc dần vào trong.
  • Thực tế, bạn có thể thấy Hexagon, Onion hay Clean Architecture có một cách định hướng khá giống nhau, ở Clean Architecture, Uncle Bob đã thêm 1 số layer bên ngoài như thư viện thứ 3, dll, …

Tổng kết

  • Nhìn chung, các kiến trúc về sau như Hexagon, Onion, Clean Architecture đều là các cách tiếp cận áp dụng các thủ pháp như Dependency Inversion, … nhằm tập trung vào phần core, domain, … và các module bên ngoài phải được xây dựng dựa theo hệ thống chính, chứ hệ thống chính không đi theo module bên ngoài
  • Việc triển khai các cấu trúc phức tạp hơn cho phép ta mở rộng dễ hơn về sau khi logic ở core ngày càng tăng lên, tuy nhiên, không có cấu trúc nào là hoàn toàn hoàn hảo và được xây dựng ở các thời điểm khác nhau cho mục đích khác nhau.
  • Do sự phát triển của microservice, các hệ thống còn được chia nhỏ ra nhiều service nhỏ hơn nữa, khi logic ở mỗi service không quá nhiều, ta dễ dàng có thể triển khai 1 cấu trúc 3 tầng thay vì các cấu trúc quá phức tạp và phải đi qua nhiều tầng để giúp tăng tốc độ triển khai dự án.