[Phần 2] Session Token và JWT Token, Refresh Token, khi nào quyết định sử dụng, ưu và nhược điểm

This entry is part 2 of 2 in the series API Security

Bearer Token

image 19 - quochung.cyou PTIT
  • Lúc này, ta đã đang thực hiện giao tiếp với server qua token, có một câu hỏi đặt ra là, làm sao để gửi token đó cho phía server?
  • Hiển nhiên, ta có thể làm điều ở ở body của request, ở param, … hoặc ở cookie. Tuy nhiên, có một cách thông dụng và được sử dụng hầu hết hiện nay để chuyển 1 token không qua cookie đó là sử dụng dạng “Bearer” https://tools.ietf.org/html/rfc6750
  • Bearer lúc đầu được tạo ra nhằm phục vụ cho OAuth2 (sẽ nói thêm sau)
  • Để gửi 1 token qua api, ta chỉ cần để nó ở header Authorization
Authorization: Bearer QDAmQ9TStkDCpVK5A9kFowtYn2k
  • Việc sử dụng giao tiếp qua Authorization cũng cho phép ta sử dụng header WWW-Authenticate để giúp đầu api “thân thiện” với http hơn
  • WWW-Authenticate có thể theo kèm một tham số là “realm”, bạn có thể hiểu trường này như một trường nhằm định dang đầu api hiện tại. VD nếu realm = admin, thì client sẽ hiểu đầu api này cần token dành cho admin, nếu realm = users thì là các đầu api open cho user
  • Ngoài ra, ta cũng có thể thêm các thông báo về việc token hết hạn, sai, …
HTTP/1.1 401 Unauthorized
WWW-Authenticate: Bearer realm="users", error="invalid_token",
        error_description="Token has expired"
  • Phần này giúp phía client có thể biết là token đã hết hạn và yêu cầu tạo token mới
image 20 - quochung.cyou PTIT
  • Để lưu token ở phía client mà không cần sử dụng cookie, ta có thể sử dụng các bộ nhớ có sẵn của trình duyệt như
    • sessionStorage: Các thực thể có thể được lưu tại đây, bộ nhớ chỉ là tạm thời và bị xoá khi tab bị đóng
    • localStorage: Dữ liệu được lưu kể cả khi trình duyệt đóng và chỉ xoá nếu ta yêu cầu
  • Nghe sessionStorage giống với cookie, tuy nhiên sessionStorage sẽ không share giữa các tab với nhau. Tức là cookie sẽ share giữa các tab, nhưng chỉ chung 1 domain (tức là phân biệt bằng tên miền). Còn sessionStorage chỉ lưu trạng thái ở tab hiện tại

JWT Token

  • Ta đã đi qua cách authentication bằng sử dụng basic authentication, rồi đến token được lưu ở cookie hoặc local/session storage. Tuy nhiên các cách thức này đều yêu cầu token cũng phải được lưu ở phía server.
  • Tức là mỗi truy vấn vào server, ta lại phải gọi vào database, với hàng triệu, hàng tỉ token ngày càng tăng lên để kiểm tra xem token có tồn tại chưa, có hết hạn chưa, … Chưa kể đến ta còn phải giải mã token ra nếu ta mã hoá nó trong database (thường là có)
  • Việc này tạo thành một bài toán lớn và ngày càng khó giải khi số lượng user tăng cao
image 21 - quochung.cyou PTIT
  • Lúc này, có một giải pháp khác đã được tạo ra, đó là JWT (Json Web Token)
  • Định nghĩa: JWT hay JSON Web Token là một format thông dụng cho các token ở dạng “self-contained” (chỉ lưu ở client). JWT thường bao gồm các claims (các khẳng định rằng user này có gì, có kia) và các quyền của user. VD, JWT sẽ chứa là user có quyền được vào trang a, trang b, ….
  • JWT ngoài ra được mã hoá crypto để bảo vệ khỏi các vấn đề bảo mật liên quan

Lưu JWT ở phía Client

  • Bạn sẽ có câu hỏi: Làm sao để một token chỉ có thể lưu ở client mà không ở server, vậy thì làm sao ta biết là token nào là thoả mãn, chưa bị người khác sửa, thêm quyền kiểu admin vào và cầm token đó đi request server?
image 22 - quochung.cyou PTIT
  • Một trong các cách được đề ra có thể xem qua ảnh sau. Tức là khi phía server sinh ra 1 token thoả mãn, ta sẽ thêm 1 key (HMAC) vào đuôi của token.
  • Hmac được sinh ra từ claims và 1 đoạn key, điều này giúp kiểm tra nếu đoạn claims đã bị sửa đổi thì phần HMAC sẽ không trùng khớp nữa.
  • Điều này đảm bảo là người khác khi sửa gì đó thì sẽ không thoả mãn nữa do ta có phần đuôi tag để kiểm tra xem. (Server sẽ thử giải mã phần key xem có đúng với ban đầu không, key này chỉ server biết)
  • Cấu trúc JWT có 3 phần
    • Header: Chứa các thông tin về kiểu token này dùng mã hoá dạng gì, …
    • Claims: Phần chứa thông tin ta muốn để trong token, ví dụ quyền của user
    • HMAC Tag: Phần mã hoá đảm bảo tính toàn vẹn của token
image 22 - quochung.cyou PTIT
  • JWT trở lên ngày càng phổ biến ở những năm gần đây do JSON Web Tokens đã được tiêu chuẩn hoá vào 2015. (Trước đây ta gọi những token stateless bên trên là JSON Token). JWT là một chuẩn với chức năng tương tự như ý tưởng JSON Tokens ban đầu, nhưng có một số chức năng thêm:
    • Một quy định chung cho phần header chứa các thông tin kèm cho JWT, ví dụ như thuật toán mã hoá, …
    • Một số chuẩn chung về phần claims, là trường nào lưu gì, …
    • Nhiều thuật toán khác nhau để mã hoá và xác thực.
  • Tuy rằng JWT chỉ là một quy chuẩn định nghĩa tại https://tools.ietf.org/html/rfc7519, nó được xây dựng từ một tập hợp nhiều quy chuẩn được gọi là JSON Object Signing and Encryption (JOSE). JOSE chứa nhiều tiêu chuẩn sau:
  • Một token JWT cơ bản trông như sau:
image 20 - quochung.cyou PTIT
  • Sự linh hoạt của JWT cũng là điểm yếu lớn nhất của nó, nhiều cuộc tấn công đã xảy ra nhờ vào sự linh hoạt này. JOSE là một tập các phần thiết kế cho phép lập trình viên chọn từ nhiều thuật toán khác nhau, và không phải sự kết hợp nào cũng đem lại tính bảo mật tốt.
  • VD: Vào năm 2015, (http://mng.bz/awKz) Tim McClean đã tìm ra một lỗ hổng trong rất nhiều thư viện JWT về việc ở phần header, ta có thể sửa nó thành thuật toán khác, và thậm chỉ sửa nó thành “none”. Điều này vô tình bảo các thư viện JWT ở phía backend khi kiểm tra token đã không dùng thuật toán nào để kiểm tra mã hoá, và các phần claims bị sửa trái phép không bị phát hiện. (Hay còn được biết đến là JWT None Attack)

Paseto

image 21 - quochung.cyou PTIT
  • Các lỗi trong các quy chuẩn dẫn tới sự phát triển của các công cụ thay thế với hi vọng vẫn chứa các tính năng tương tự nhưng sẽ sửa một số vấn đề của bộ cũ.
  • Một ví dụ là Paseto, cung cấp các trình mã hoá đối xứng, khoá public, … hỗ trợ xử lý các vấn đề của Jose và các chuẩn JWT chung.
  • Điểm chung ngắn gọn giữa Paseto và Jose là thay vì cho phép lập trình viên mix giữa nhiều cấu phần khác nhau trong bộ Jose, Paseto chứa một bộ fix cứng chung về thuật toán (AESS, RSA, Ed25519, …), giúp giảm thiểu các vấn đề bảo mật xảy ra.

Một số chuẩn chung trong claims của JWT

Thông thường, phần claims sẽ có các mục sau:

issIssuerChỉ ra là ai đã tạo ra token này, thường là url của trang đã sinh token.
audAudienceChỉ ra token này dành cho ai, có thể là id của user, …
iatIssued-AtThời điểm token được tạo ra
nbfNot-BeforeToken bị cấm nếu dùng trước thời gian này. VD đặt là 2/1 mà dùng vào 1/1 thì không được
expExpiryThời điểm token hết hạn
subSubjectĐịnh danh chủ đề của token, thường là username, id hay gì đó
jtiJWT IDID không bị trùng của token, dùng để tra cứu sau này nếu cần

JWT trong Database, xoá token

image 23 - quochung.cyou PTIT
  • Các token stateless, chỉ cần ở client side là một cách hay để giảm bớt state khỏi database. Điều này giúp ta scale các api mà không cần nâng cấp nhiều phần cứng database hay phải triển khai nhiều việc hơn.
  • Tuy nhiên, việc lưu trữ token ở database lại cho phép ta có một quyền năng lớn, đó là có thể revoke, hay quyết định 1 token có hợp lệ hay không, bằng cách chỉ cần xoá nó khỏi database. Hiển nhiên, việc lưu ở database đi kèm rất nhiều vấn đề về scale, có thể là ta cần nhiều database token cho nhiều service nhỏ khác nhau, nếu ta tập trung nó lại, nó có thể là 1 điểm SPOF (Single Point of Failure), 1 điểm nghẽn trong toàn luồng và chỉ cần nó chết, toàn hệ thống sẽ ngỏm do không có khả năng authentication

  • Có một số cách để xử lý vấn đề này. Ta có thể lưu database, tuy nhiên không lưu toàn bộ token mà chỉ cần 1 id unique nào đó mà có thể link với 1 token, khi huỷ hợp lệ 1 token, ta chỉ cần huỷ id đó, khi token đó được gửi bởi client, ta sẽ giải mã ra id và kiểm tra. Điều này giúp ta giảm bớt phần nào đó về database
  • Một cách khác là, ta có thể chỉ lưu các token bị huỷ hợp lệ, hay danh sách đen. Khi token được gửi lên ,ta xem nó có trong danh sách đen hay không, thì sẽ từ chối token đó. Các token mà đã hết hạn sử dụng rồi có thể clean up dần đi, giúp database danh sách đen nhỏ
  • Một cách khác là thay vì block 1 token, ta có thể chỉ chặn 1 số chức năng ở 1 tập hợp tk. Ví dụ, ta thường có chức năng đăng xuất ở mọi thiết bị khác khi ta đổi mật khẩu, để làm điều này, ta có thể thêm vào database toàn bộ token của người dùng trước ngày nào đó đều bị xoá, điều này giúp giảm không gian cần cho database, nhưng đi kèm query phức tạp hơn.

Tham khảo:

  • API Security in Action
  • Modern API Architecture

Còn tiếp

[Phần 1] Session Token và JWT Token, Refresh Token, khi nào quyết định sử dụng, ưu và nhược điểm

This entry is part 1 of 2 in the series API Security

Lời đầu

  • Trước khi đi vào Session Token hay JWT Token, hay có thể tóm gọn là authentication qua token, ta sẽ đi qua về 1 cách khác để authentication qua các giao thức API, và sau đó sẽ nói về ưu nhược điểm giữa chúng

Http Basic Authentication

  • Luồng chạy của HTTP “Basic” Authentication như sau:
image 14 - quochung.cyou PTIT
  • Khi người dùng truy cập và không có thông tin đăng nhập, hệ thống sẽ trả về 401 (Unauthorized) và thông tin đi kèm là cách để có thể author qua header WWW-Authenticate với thông tin (Ví dụ trên ảnh là yêu cầu Authen qua Basic)
  • Khi ta truy cập với Header Authorization + Basic + chuỗi mã, lúc này hệ thống sẽ kiểm tra và cho phép có quyền hay không.
 Authorization: Basic dGVzdDoxMjPCow==
  • Ví dụ như mã trên, đoạn mã sau Basic cơ bản là một đoạn String được mã hoá ở dạng base64, bạn có thể decode nó qua các trang base64, ví dụ
image 15 - quochung.cyou PTIT
  • Ví như với mã trên, khi decode, ta nhận được đoạn mã test:123£, đây là format của Basic Authen, với đầy đủ là username:password, thì ở đây test là username, và password là 123£

Ưu điểm

  • Sử dụng đơn giản, luồng không phức tạp, triển khai nhanh
  • Phù hợp cho authentication trong nội bộ, cho các ứng dụng trên môi trường kiểm thử (non-prod)

Nhược điểm

  • Toàn bộ request đều sẽ phải gửi username và password, điều này nhìn chung tăng khả năng xảy ra lộ mật khẩu.
  • Do lần nào cũng gửi mật khẩu, nên nếu bạn mã hoá nó, việc này là một công đoạn khá tốn tài nguyên. Những thuật toán hashing, mã hoá mật khẩu hiện đại có thể tốn tới 100ms (0,1s) để giải mã mật khẩu rồi kiểm tra có đúng không. Điều này hao tốn CPU cho hệ thống
  • Một số vấn đề khác về UX (giao diện mặc định đăng nhập xấu), vấn đề bảo mật về việc lưu password ở client để gửi đi authen, ….

Token Authentication trong API

Khái niệm

  • Hiểu đơn giản, thông thường thì authentication bằng token sẽ hoạt động như sau: Tài khoản, mật khẩu, … thông tin user chỉ cần nộp 1 lần, người dùng sau đó sẽ được cấp 1 token, 1 đoạn mã có thời hạn sử dụng. Người dùng sau đó có thể dùng token này để authentication cho đến khi đoạn token hết hạn sử dụng
  • Ví dụ về token authentication trong thực tế, điều này giống như bạn đi một khu vui chơi. Bạn đã đặt vé từ trước, và để xác minh bạn đã đặt vé chưa, bạn phải xuất trình căn cước công dân, ảnh thẻ, hộ chiếu, …. Thay vì vậy, khu vui chơi sau khi nhận căn cước công dân ở cửa vào, sẽ cấp cho bạn 1 phiếu vé có thời hạn 1 ngày hay gì đó, sau đó bạn dùng phiếu vé này để đi chơi trong khu vui chơi trong thời gian của vé.

Cách tiếp cận 1: Lưu trữ token trong database

image 16 - quochung.cyou PTIT
  • Người dùng lần đầu sẽ gửi thông tin của mình cho server, server sẽ từ đó sinh ra 1 token và lưu nó vào database
  • Lần sau người dùng sẽ chỉ cần gửi token, và sau đó server kiểm tra token có trong database không, còn hạn sử dụng không, … rồi cho phép người dùng

Việc này khắc phục các điểm:

  • Đầu tiên, token thường không chứa thông tin mật khẩu, tài khoản, … nữa nên ít lo bị lộ thông tin cá nhân của người dùng hơn.
  • Giảm bớt các nhược điểm của Basic Authen là phải mã hoá, giải mã mật khẩu, ….
  • Nếu có vấn đề bảo mật xảy ra, token được cài đặt là có thời hạn, và hơn nữa ta đã lưu ở trong database, ví dụ, bạn bị mất token vào tay người khác, thì thiệt hại cũng được giảm thiểu. Hoặc ta có thể trực tiếp ngăn chặn bằng cách xoá token đó đi trong database.

Session Cookie

  • Cách triển khai đơn giản nhất của hướng tiếp cận trên, và cũng khá phổ biến là sử dụng cookie. Sau khi người dùng đăng nhập bằng thông tin, phía server sẽ trả về 1 header Set-Cookie trong response để yêu cầu trình duyệt người dùng lưu 1 chuỗi token ngẫu nhiên trong bộ nhớ cookie của trình duyệt
  • Các request vào trang đó sẽ sử dụng token như 1 header Cookie (do cookie được tạo ra để lưu trữ những thông tin của người dùng trong 1 site)
image 18 - quochung.cyou PTIT

Ưu điểm

  • Cookie có nhiều cơ chế về bảo mật có sẵn, ví dụ như cookie chỉ gắn liền với từng tên miền, nên nó luôn đảm bảo không có chuyện ta gửi sang trang khác đoạn cookie chứa thông tin nhạy cảm
  • Cookie có thể được đánh dấu là Secure, điều này giúp đảm bảo khi gửi kết nối tới trang nào thì cookie chỉ được gửi nếu kết nối đó là Https và đã được mã hoá.

Nhược điểm

  • Trong thiết kế API theo hướng RestAPI đó là kết nối giữa client người dùng và server nên là stateless http://quochung.cyou/kien-truc-stateful-va-stateless-la-gi/. Đó là server sẽ không lưu trạng thái nào của người dùng giữa các request khác nhau.
  • Cookies phá vỡ nguyên tắc này vì server lúc này lưu trạng thái của cookie với các client khác nhau. Vào thời điểm đầu khi session cookie được sử dụng, chúng thường là nơi lưu trữ tạm thời 1 số trạng thái của người dùng, ví dụ như 1 giỏ hàng, 1 danh sách sản phẩm đã được chọn mà người dùng chưa thanh toán. (Kiểu khi người dùng chọn rồi, nó không lưu trực tiếp vào database) mà chỉ lưu vào cookie, điều này dễ gây ra một số lỗi bất thường cho website.
Cookie attributeÝ nghĩa
SecureCookie chỉ có thể gửi qua kết nối https
HttpOnlyKhông thể đọc trực tiếp bằng javascript
SameSiteChỉ gửi cho cùng trang
Một số attribute của cookie về bảo mật

Tối ưu truy vấn Pagination (phân trang) sử dụng Spring Boot (Java)

image 4 - quochung.cyou PTIT

Phân trang là gì, tại sao cần phân trang

Phân trang đơn giản là ta sẽ chia một tập dữ liệu lớn và truyền cho user thành từng phần nhỏ hơn. Hãy tưởng tượng, bạn đang thiết kế một hệ thống backend cho phía frontend của một trang tin tức, phía FE muốn một lệnh API để có lấy dữ liệu các bài viết từ database của bạn.

image 5 - quochung.cyou PTIT

Bài toán sẽ khá đơn giản nếu bạn chỉ có 10-20 bài viết, bạn chỉ cần làm theo cách truyền thống, lấy dữ liệu từ database từ backend, gửi một file json chứa dữ liệu cho FE, mọi thứ nghe có vẻ đơn giản.

Tuy nhiên khi tập dữ liệu của ta ngày càng lớn, ví dụ, lúc này 1 Model bài viết có rất nhiều trường (ảnh đại diện, chuyên mục, thời gian đăng, ….), và ta có hàng 1000-10000 bài viết, việc trả 1 lần tập dữ liệu lớn như thế sẽ làm chậm ở 2 chỗ:

  • Lấy toàn bộ dữ liệu từ database tốn thời gian
  • Truyền 1 lần dữ liệu lớn như vậy sẽ rất nặng, tốn tiền mạng thật sự của user (tải 1 file lớn mỗi lần), và lúc tải 1 file lớn như thế cũng rất chậm, tốn thời gian, gây khó chịu người dùng

Tổng kết 1

Khi đó, ta có thể sử dụng đến phân trang, và mỗi lần người dùng chỉ có thể xem 1 trang, ta chỉ gửi khoảng 10-15 bài viết 1 lần thôi, khi người dùng sang trang khác ta sẽ gửi tập dữ liệu khác, khá đơn giản.

Triển khai phân trang bằng Spring Boot

Triển khai Model

image 6 - quochung.cyou PTIT

Triển khai Repository

Để có thể truy cập các JPA Entity trên từ database, ta sẽ tạo 1 PostRepository

image 7 - quochung.cyou PTIT

JPARepository đã kế thừa sẵn một interface là PagingAndSortingRepository của Spring hỗ trợ việc phân trang và sắp xếp. Dù là một interface, không có implemention, nhưng khi chương trình khởi chạy, Spring sẽ tự động generate các code implemention thật cho chúng ta, thực thi các thao tác với database, và chúng ta chỉ cần define các method có sẵn thôi.

Phân trang

Do Spring đã làm đa số các phần code, giờ ta chỉ cần triển khai thêm 2 việc

  • Tạo một PostPageRequest class, implement từ Pageable interface của Spring
  • Truyền tham số cần tìm cho PostPageRequest
image 9 - quochung.cyou PTIT

Khi implement interface Pageable, ta sẽ phải triển khai một số hàm. Lúc này class PostPageRequest sẽ như một object “trang” , kiểu trang 5 thì là một object Trang, trang 6 là một object khác. Từ object trang đó ta có thể lấy trang tiếp theo, trang phía trước, các bài viết trong trang,….

offset và limit

Bạn có thể thấy trong code trên có các tham số offset và limit. Hai tham số trong sql có ý nghĩa như sau

  • offset x : Lùi x kết quả từ dãy kết quả trả ra
  • limit y: Từ danh sách kết quả trả ra, lấy y kết quả đầu tiên.
  • Ví dụ: ta có các bài viết đánh số từ 1-100. offset 5 thì ta sẽ có danh sách là 6-100. limit tiếp 10 thì ta có danh sách 6-16…

Nếu bạn đã hiểu định nghĩa offset và limit, hãy thử đọc lại code bên trên, bạn sẽ dễ dàng hiểu được các method lấy trang tiếp theo, lấy trang trước, …. đang làm gì.

image 10 - quochung.cyou PTIT

Tổng kết 2

Như vậy, ta đã triển khai được phân trang bằng Spring Boot, tuy nhiên liệu như vậy đã tối ưu cho trang web của bạn chưa?

Tối ưu limit và offset trong MySQL

image 11 - quochung.cyou PTIT
image 12 - quochung.cyou PTIT
OffsetQuery Duration (ms)
01
501
100013
10000150
25000500
50000930
1000001750

Những biểu đồ và bảng

Ta có thể thấy, bằng việc dùng offset để lùi kết quả đi một đoạn, rồi lấy limit để lấy lượng bài ở trang đó nghe có vẻ rất đơn giản, dễ hiểu. Nhưng thực tế trong MySQL chúng được thực hiện như sau:

…the rows are first sorted according to the <order by clause> and then limited by dropping the number of rows specified in the <result offset clause> from the beginning…

…các dòng đầu tiên được sắp xếp (ví dụ theo id, thời gian đăng bài…) sau đó xóa x hàng đầu tiên được yêu cầu khi sử dụng offset
image 13 - quochung.cyou PTIT

Nếu bạn nghĩ kĩ, câu lệnh offset chỉ nhận đúng 1 tham số: lượng dòng bị bỏ qua cho đến tập kết quả muốn nhận.

Cách duy nhất hệ thống database có thể làm điều này là lấy toàn bộ dữ liệu cần tìm, sau đó ném đi x hàng đầu bạn đã đặt ra yêu cầu. Khi offset đủ lớn, lượng công việc cho database sẽ rất nhiều và thời gian để truy vấn sẽ tăng khó kiểm soát.

Khi sử dụng offset, ta mở trang đầu tiên, trang thứ 2, thời gian mất chỉ 1ms (1 phần nghìn giây), gần như không có vấn đề gì.

Trang thứ 10000, 150ms, vẫn chưa nhận ra điều gì quá lo ngại

100000 1750ms, 1,75 giây.

Ta có thể thấy, nếu người dùng mở 1 trang càng xa, hiệu suất của trang sẽ càng giảm, việc một user mở trang thứ 10000 có thể gây vấn đề hiệu năng hơn nhiều cho database hơn 100 người dùng khác mở trang 1

Hướng khắc phục

Trước hết, ta cần tìm hiểu xem những hệ quản trị cơ sở dữ liệu đang làm gì để sắp xếp dữ liệu của chúng ta. Ta sẽ assume hệ cơ sở dữ liệu đang sử dụng một B-Tree để index database (một bản nâng cấp của cây nhị phân cân bằng).

Nếu bạn chưa từng nghe đến cụm từ trên, bạn có thể tìm hiểu ở link sau:

Lúc này database của chúng ta lưu dữ liệu theo dạng như sau:

image 14 - quochung.cyou PTIT

Khi ta sử dụng offset 0, limit 5 để lấy 5 bài viết đầu tiên chẳng hạn, database sẽ chạy các kết quả sau

SELECT * FROM my_table ORDER BY id LIMIT 5
image 15 - quochung.cyou PTIT

Tuy nhiên, với offset, sau khi offset 5 và limit 5, ta có

image 16 - quochung.cyou PTIT

Như vậy, ta phải đi qua 5 cái đầu trước, bỏ dần nó, rồi sau đó mới limit 5 cái sau. Khá là tốn thời gian

Vấn đề: Database không biết điểm khởi đầu của trang tiếp theo ở đâu, vì vậy nó cứ phải bỏ dần các hàng phía trước cho đến khi đến được vị trí chỉ định

=> Khắc phục: Ta nhớ xem vị trí lần cuối là ở đâu ?

Kĩ thuật: keyset pagination and seek method

Ở một số trang web, bạn sẽ thấy, bạn không thể đi đến thẳng trang cuối, hoặc nhảy đến 1 trang bất kì, mà thông thường sẽ có nút để sang trang kế và trang phía trước. Như vậy ta có thể assume rằng:

Người dùng sẽ chỉ mở trang 10 sau khi mở trang 9.

Vậy, ta chỉ cần nhớ vị trí cuối cùng của bài viết ở trang 9 là ở id bao nhiêu, rồi dùng WHERE để truy vấn từ điểm đó, chứ không cần bỏ dần để đi đến điểm đó nữa
SELECT * FROM my_table WHERE id > 21 ORDER BY id LIMIT 5
image 17 - quochung.cyou PTIT

Ví dụ: Sort theo thời gian

SELECT *
FROM my_table
WHERE (update_date = '2017-12-21' AND id > 21) 
    OR update_date > '2017-12-21'
ORDER BY update_date,id LIMIT 5

Cơ bản là ta sẽ chỉ lấy các bài viết có cùng thời gian đăng như bài viết cuối và id > , hoặc thời gian lớn hơn bài viết cuối

image 18 - quochung.cyou PTIT

Tổng kết

  • Phương pháp keyset pagination and seek giúp tối ưu việc phân trang cho các bài toán lớn hơn rất nhiều (Tham khảo biểu đồ trên)
  • Triển khai trong Java (JPA/Hibernate)

Tuy nhiên, phương pháp này sẽ có thêm các vấn đề sau

  • Ta cần thay đổi lại code của hệ thống để triển khai phương pháp này, cần phải nhớ hàng cuối cùng hiện tại, làm code phức tạp hơn, khó quản lí hơn
  • Cần phải index database theo id, pubdate, ….
  • Các hàng tìm kiếm cần được sắp xếp, không được null
  • Không thể đi trực tiếp đến trang 500,1000,… được, mà chỉ có thể sang trang kế tiếp do ta cần nhớ điểm cuối từ trang phía trước

Có thể tham khảo thêm Spring HateOAS hỗ trợ thêm vấn đề này

Các nguồn tham khảo: