3 cách thực hiện Dependency Injection (DI) và vấn đề với @Autowired trong Spring

Lời mở đầu

Khi code các ứng dụng backend bằng Java với Spring Framework, khả năng cao là bạn đã gặp qua một đoạn code sử dụng @Autowired. Tuy nhiên, nếu bạn sử dụng một số phần mềm lint để kiểm tra code, bạn có thể thấy các phần mềm sẽ cảnh báo @Autowired is deprecated (Autowired không được khuyến khích sử dụng nữa, cách làm không tốt)

image - quochung.cyou PTIT
  • Nhìn sơ qua thì đây có vẻ là một cách đơn giản và nhanh gọn để thực hiện DI qua Spring. Chỉ cần khai báo các dependency rồi thêm một annotation (@Autowired), các phần liên kết sẽ được Spring xử lí
  • Tuy nhiên, cách làm phổ biến này lại có thể dẫn đến nhiều vấn đề về sau này. Hãy thử xem qua các thủ pháp DI được sử dụng qua Spring Framework và các ưu nhược điểm của chúng

3 cách thực hiện Dependency Injection trong Spring Framework

Field Injection

  • Field Injection chính là tên gọi của cách inject dependency khi ta khai báo bằng @Autowired
  • Về cơ bản khi khai báo annotation này trên 1 field, method, constructor. Spring sẽ tự tìm dependency phù hợp và kết nối chúng với nhau.
  • @Autowired về mặc định không sai, tuy nhiên nếu sử dụng không hợp lí chúng có thể gây ra một số vấn đề về sau.
  • Ví dụ với một code như sau:
image 1 - quochung.cyou PTIT
  • Khai báo một Multiplier trong Calculator nhanh chóng bằng @Autowired sẽ không báo lỗi gì khi compile, về cách hoạt động, khi chạy chương trình, Spring sẽ tự tìm kiếm dependency và kết nối chúng với nhau
  • Tuy nhiên, vì chúng tự động, nên ta thiếu kiểm soát hơn phần này. Tức là lúc này ta không có cách nào để thêm thủ công dependency nữa cho các hoàn cảnh khác ngoài lúc chạy ứng dụng (VD khi chạy test)
image 2 - quochung.cyou PTIT
  • Ví dụ như code trên sẽ không báo lỗi, tuy nhiên khi chạy test thì chúng có thể throw NullPointer
  • Lí do là ở file test trên thì chúng ta đang không có chỗ nào liên kết với Spring cả, vì vậy Spring sẽ không quản lý các bean mà ta đã tạo (Khai báo @Component ở các class kia) nên chúng sẽ không nối vào nhau được -> Ta sẽ bị null pointer vì Multiplier không được khởi tạo lên
  • Để xử lý vấn đề này, thì nếu sử dụng 2 thủ pháp DI bên dưới (Constructor Injection và Setter Injection) , ta có thể có nhiều khả năng kiểm soát hơn và thêm dependency một cách thủ công mà không qua Spring, tạo nhiều khả năng hơn cho việc test
  • Hoặc, ta có thể khai báo @SpringBootTest để Spring quản lý file test này và tự động thực hiện việc gắn các bean mà không cần gắn chay
image 20 - quochung.cyou PTIT

Setter Injection

image 3 - quochung.cyou PTIT
  • Cách làm trên như tên của nó, ta sẽ set một dependency của class lớn hơn ở thời điểm runtime
  • Cách làm này cho phép ta dễ dàng thay đổi dependency của một class trong runtime, ví dụ như đổi 1 repo khác 1 service nào đó, …
  • Tuy nhiên, ngoài ưu điểm là sự flexible khi set ở runtime, thì nó cũng đi cùng vài nhược điểm khác
  • Do được set trong runtime, ta đôi khi có thể gặp phải NullPointer khi dependency chưa được khởi tạo, là null, … (vì lúc này chúng là optional, không bắt buộc với class nữa)
  • Do nó lỏng lẻo hơn nên lúc này với các method trong class gọi đến dependency, ta không được đảm bảo là dependency đã được set, hoặc ta lại phải thêm code để kiểm tra là có dependency chưa, 1 là thêm code, 2 là dẫn tới nullpointer
image 21 - quochung.cyou PTIT
  • Với cách làm như thế này, ta có thể không cần Spring quản lý các bean mà có thể test chay hơn, có nhiều quyền kiểm soát hơn vào việc quản lý các dependency

Constructor Injection

image 4 - quochung.cyou PTIT
  • Như tên của thủ pháp, ta sẽ thêm dependency cho 1 class ngay tại thời điểm khởi tạo class cha
  • Ở file test trên, mình đang sử dụng mock để dựng class multiplier lên theo kèm để gắn vào Calculator qua constructor
  • Việc này đảm bảo 1 class luôn có đủ dependency để khởi tạo (tuỳ theo cách custom constructor)
  • Hoặc mình hoàn toàn có thể làm như thế này
image 22 - quochung.cyou PTIT
  • (Việc sử dụng mock cho phép nhiều khả năng khác trong test hơn, ví dụ mình có thể kiểm tra xem một hàm trong class đó được gọi bao nhiêu lần, … , chúng được quản lý theo dạng Proxy Design Pattern, mình sẽ nói ở bài viết khác)

Bạn có thể đọc thêm bài viết này về một số khái niệm trong Spring như IoC, Bean, …

Tham khảo:

[Phần 1] Sự phát triển của các mô hình hệ thống Backend (N-layered, DDD, Hexagon, Onion, Clean Architecture)

Chương 1: Nơi mọi thứ bắt đầu

Vào những ngày đầu tiên thuở sơ khai, chưa có một “mô hình hệ thống” hay “architecture” nào tồn tại cả. Giang hồ lúc này mạnh ai nấy làm, bạn chỉ cần biết GoF Pattern thì có thể tự xưng bá một phương, là một “architect”, một lập trình viên dày dặn trong nghề.

Thời gian thắm thoắt thoi đưa, từ những cái máy tính to bằng cả cái phòng, từ những chiếc ổ cứng dày cộp chỉ chứa vài MB, công nghệ ngày càng phát triển, máy tính dần thu gọn hơn, ngày càng mạnh mẽ hơn, tiếp cận đến nhiều người hơn. Lúc này, yêu cầu của người dùng ngày càng tăng chóng mặt, khiến cho độ phức tạp của các phần mềm gia tăng.

Thứ đầu tiên những cao thủ trong ngành tạo ra là (Tách UI ra khỏi các logic bussiness), từ hình thái này, các mô hình MVC đầu tiên đã được ra đời:

image - quochung.cyou PTIT

Hiểu một cách đơn giản, hãy nghĩ đến ứng dụng Facebook và website Facebook. Liệu các câu lệnh như: lấy dữ liệu các bài viết người dùng mới nhất, lấy dữ liệu của 1 trang profile có khác biệt về mặt logic khi ở trên điện thoại hay trên web? Câu trả lời là không, điểm duy nhất khác biệt chỉ là UI hay View (phần hiển thị với người dùng)

Việc tách biệt UI ra khỏi Logic giúp ứng dụng modun hoá hơn, ta có thể dùng chung 1 logic, và khi cần hiển thị trên 1 sản phẩm khác: web, điện thoại, màn hình tivi, màn hình ô tô, … , ta chỉ cần nối phần UI của thiết bị đó với các logic đã chìa ra là được.

Nghe có vẻ như vấn đề đã được giảm bớt 1 chút. Nhưng chưa phải là tất cả, lúc này View có thể chỉ là vài tấm ảnh, một cái nút, Controller sẽ là người ở giữa trung chuyển các câu lệnh, và phần lớn logic bị dồn xuống Model, nơi thường xuyên phải lưu dữ liệu vào database, file, … hay nhìn chung là trực tiếp vào các “đối tượng” của chúng ta.

Chương 2: 2002 – N-Layered (Cấu trúc xếp chồng N tầng)

Một mô hình “lí tưởng” không tồn tại, cũng như mọi thứ, chúng đều là thành quả của nhiều lần thử nghiệm, và được rút kinh nghiệm rất nhiều lần.

Một lập trình viên đã tiên phong trong việc tạo ra một mô hình hệ thống, góp phần ảnh hưởng lớn đến rất nhiều thế hệ lập trình viên sau này tên là Martin Fowler.

image 1 - quochung.cyou PTIT

Ông đã cho ra đời cuốn “Patterns of Enterprise Application Architecture” (Cách thực hiện một mô hình ứng dụng phục vụ cho doanh nghiệp), nơi mà ông đã nói về cấu trúc N-Layered

1 pd5bfxtxV9AK0 QlIOK6Vw - quochung.cyou PTIT

Ý tưởng khá đơn giản, ta sẽ phân loại và nhóm các phần code liên quan đến nhau lại thành “1 tầng”, khi đó ta sẽ có nhiều tầng xếp chồng lên nhau.

Tuy nhiên, Fowler cũng biết việc không nhất quán sẽ xảy ra nếu cứ mỗi ông lập trình viên lại xếp các tầng một cách vô tổ chức, ông đã thêm một số “quy tắc” nhỏ góp phần đồng bộ:

  • Bạn có thể đặt tên một layer – tầng là gì cũng được
  • Bạn có thể có bao nhiêu layer tuỳ thích
  • Bạn có thể thêm một layer ở giữa các layer thường có
  • Bạn có thể có nhiều thành phần trong 1 layer
  • Quan trọng là: cần có một hệ thống cấp bậc rõ ràng giữa các layer, chúng nên gọi đến nhau theo từng cấp một.
1 0Kq2jEHDWcfdeorqKPdYFQ - quochung.cyou PTIT

Điều này đã giúp các ứng dụng giảm bớt các code trùng lặp, và cũng làm cho code có một cấu trúc rõ ràng.

Thông thường đa số ứng dụng chỉ cần 3 tầng là đã có thể phục vụ các nhu cầu cơ bản

image 4 - quochung.cyou PTIT
  • User Interface (UI) — chịu trách nhiệm tương tác với người dùng (giao diện)
  • Business logic layer (BLL)— Xử lí các logic chính của hệ thống
  • Data Access layer (DAL) — Là tầng giao tiếp với dữ liệu như database, …
image 5 - quochung.cyou PTIT
  • Bạn có thể thấy trong các video hướng dẫn làm các dự án backend bằng Spring Boot, người ta thường có một 1 tầng Service (Bussiness), sau đó mới gọi xuống tầng Repository (Data Access), nơi mà giao tiếp trực tiếp với database.
  • Các tầng sẽ gọi đến nhau qua các interface, ví dụ: có một interface là OrderRepository phục vụ lấy dữ liệu từ db. Lúc này, tầng bussiness chỉ cần quan tâm sẽ thực hiện các giao thức lấy dữ liệu của interface này, còn logic thực sự ở tầng data access sẽ được ta viết từ các class implement interface trên.
  • => Ví dụ: ta có 1 interface OrderRepository. ta có 2 class khác implement interface trên là OrderRepositoryImplMongo, OrderRepositoryImplMySQL. Do cả 2 cùng implement orderrepo, nên từ bussiness ta có thể dễ dàng lắp một class khác cho 1 database khác, thuận tiện cho việc xử lí. (Bạn có thể đọc thêm Dependency Injection)
image 6 - quochung.cyou PTIT

Chương 3: 2003 – Domain Driven Design (DDD)

Tưởng chừng N-Layered đã có thể xử lí được các vấn đề hiện tại, tên tuổi của Fowler sẽ được ghi tên vào sử sách. Nhưng vào năm 2003, một anh tài trong giang hồ, một lập trình 46 tuổi đến từ Boston, Eric Evans đã công bố một cuốn sách “Domain-Driven Design: Tackling Complexity in the Heart of Software” (Domain Driven Design: Xử lí sự phức tạp cốt lõi của phần mềm). Cuốn sách đã khiến 1 anh chàng Martin nào đó trên thế giới phải cất poster và khóc.

image 7 - quochung.cyou PTIT

Nhìn chung thì Evans vẫn đồng ý với đa số các ý tưởng của N-Layered, đó là sự kế thừa của hệ thống chỉ nên đi theo 1 hướng (các tầng gọi nhau lần lượt từ trên xuống dưới).

Tuy nhiên ông cho rằng, cũng không tệ lắm nếu một module bậc thấp (tầng bên dưới) có thể gọi lên module bậc cao ở tầng cao hơn. Miễn là nó không phá vỡ hướng đi kế thừa của hệ thống (dependency direction). Điều này có thể làm được bằng callback, hoặc một số design pattern như observer, ….

Ông cũng cho rằng, các Controller thường bị lắp quá nhiều logic, nên ông đã chuyển chúng sang 1 layer khác tên là Application. Ông cũng cho rằng tầng Bussiness logic nên được chú trọng nhiều hơn là tầng database (data access). Nhưng nhìn chung cấu trúc cũng không thay đổi nhiều lắm.

image 8 - quochung.cyou PTIT

Ở cấu trúc của ông, một hệ thống được quy định như sau:

  • Presentation Layer — tầng “trình bày”, tương tác với bên ngoài.
  • Application Layer — Nhận và điều phối các yêu cầu, sau đó chuyển qua tầng Domain.
  • Domain Layer — Chứa các chức năng chính của hệ thống.
  • Infrastructure Layer — Xử lí dữ liệu (tương tự tầng data access)

Bạn có thể thấy ông đã đổi tên một số tầng tưởng chừng như có chung mục đích, nhưng chúng có nguyên do của nó. User Interface thường có ý nghĩa là bạn có một user người dùng nào đó, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Đôi khi ta có một GUI (Graphical User Interface – Giao diện người dùng) cho users, nhưng cũng có thể là 1 CLI (Command Line Interface – Giao diện cmd) cho lập trình viên, hay có thể là API (Application Programming Interface) cho các ứng dụng khác gọi vào. Tầng Presentation thì sẽ “Generic” , chung chung hơn, bao quát hơn.

Business logic thì nghe có vẻ hơi trừu tượng cho đội lập trình viên, vì chúng ta thường không thiên về mảng kinh tế, vì vậy ông đã tạo ra 1 tên mới “Domain – miền”

Ở tầng dưới cùng, đôi lúc, ta không chỉ lưu dữ liệu vào ram, vào database hay đâu đó. Mà có thể ta muốn nó sẽ gọi đến chỗ khác, kiểu gửi 1 email, 1 tin nhắn zalo, … nên chúng được gộp chung thành tầng Infrastructure (Hạ tầng).

Nhìn chung là thế, một số sự thay đổi tên, thêm 1 layer mới, có một số phần khác đã được thêm vào tầng Domain. Và đó là DDD – Domain Driven Design.


Tham khảo:

Tìm hiểu Consistent hashing (Ánh xạ nhất quán) – Xử lí dữ liệu phân tán

image 60 - quochung.cyou PTIT
  • Consistent hashing (Ánh xạ nhất quán) thường được sử dụng trong các hệ thống phân tán.
  • Trước tiên, để giải thích một số term, thuật ngữ mà các bạn còn có thể confuse, chúng ta sẽ đi từng phần một

Hệ thống phân tán

image 61 - quochung.cyou PTIT
  • Hiểu đơn giản, tưởng tượng việc bạn truy cập đến server như vào 1 cửa hàng mua đồ vậy. Nếu một ngày bình thường, bạn gọi món, đồ ăn đến rất nhanh, đơn giản, phục vụ tốt. Nhưng vào giờ cao điểm, khi chỉ có 1 phục vụ quán, quá nhiều người gọi làm phục vụ quán không đỡ kịp, cửa hàng quá tải và ai cũng có đồ ăn rất chậm.
  • => Để xử lí có nhiều cách, nhưng dễ dàng nhất, chỉ cần tuyển thêm nhiều phục vụ hơn thôi? Quy chiếu về server, ta chỉ cần có nhiều server con khác nhau, và chia nhỏ các yêu cầu của khách hàng đến các server một cách đồng đều, hay chia nhỏ các database, …. Lúc đó, ta có hệ thống phân tán.

Ánh xạ là gì? Tại sao cần ánh xạ (hashing) ?

  • Lúc này ta có một bài toán cần giải quyết, làm sao để chia các yêu cầu của khách hàng vào các server khác nhau, sao cho nó đồng đều? Không được có server làm quá nhiều việc, server làm quá ít việc, ta mong muốn có mọi server đều xử lí đều nhất có thể.
  • Một cách làm phổ biến và dễ hiểu là Round-robin, hay ánh xạ theo phần dư
ServerIndex = hash_function(key) % N
  • Tức là ta sẽ đánh số các request theo thứ tự bằng cách chia dư. Ví dụ ta có 5 server, thì chia dư số thứ tự cho 5
image 62 - quochung.cyou PTIT
  • Ánh xạ chia dư cho 4 server như vậy thì request thứ 1 và 5 sẽ vào ô 1, sau đó là request 0,2 , rồi request 7,6 , …
  • Nghe thì có vẻ rất lí tưởng, request sẽ được chia đều cho các server. Nhưng đó là trường hợp số lượng server không đổi trong “thế giới lí tưởng”. Cuộc sống thực tế thì không đẹp như vậy, chúng ta dễ dàng gặp phải trường hợp sếp bỗng muốn đang từ 4 server, scale lên 15 server. Hay 4 server giảm xuống còn 2 server. Hay 10 server một ngày bỗng chết, mất điện server 1,5,6.
image 63 - quochung.cyou PTIT
  • Lúc này ta cần bê tập dữ liệu từ server sai số thứ tự, rồi đánh số lại theo số lượng server mới. Lúc này rất dễ xảy ra trường hợp server thì bị quá tải, server thì lại rảnh không.
  • Đánh giá vấn đề: Việc chuyển dữ liệu từ những server hỏng, hoặc chuyển ra server mới khi scaleup/down là thiết yếu. Nhưng ta cần một phương pháp để số lượng phần tử cần di chuyển ít nhất có thể

Consistent hashing (Ánh xạ nhất quán)

Định nghĩa

“Consistent hashing is a special kind of hashing technique such that when a hash table is resized, only n/m keys need to be remapped on average where n is the number of keys and m is the number of slots. In contrast, in most traditional hash tables, a change in the number of array slots causes nearly all keys to be remapped because the mapping between the keys and the slots is defined by a modular operation.”

Ánh xạ nhất quán là một kĩ thuật ánh xạ để khi mà bảng ánh xạ thay đổi số lượng, chỉ có n/m từ khoá sẽ cần phải đánh số lại trung bình. Với n là số lượng dữ liệu (trong ví dụ trên là request), và m là số slot (ví dụ trên là server). Điều này tốt hơn ánh xạ chia dư khi mà gần như toàn bộ dữ liệu phải đánh lại hết vì tất cả số dư thường sẽ thay đổi khi m thay đổi.

Một số từ khoá

image 64 - quochung.cyou PTIT
  • Gọi f() là hàm băm, phương trình sẽ cho ra một mã gì đó khi ta truyền vào 1 giá trị. Mỗi phương trình thì luôn có vùng giá trị đầu ra (hash space) nhất định. Ví dụ: chia dư cho m thì vùng giá trị là từ 0 -> m-1. hay SHA-1 thì là từ 0 -> 2^160-1. Ta sẽ có (hash ring) vòng băm tương ứng

Các bước

  • Tiến hành hash các server của chúng ta thành một số nguyên trong hash ring được định nghĩa trước. Khoảng số này tuỳ vào người thiết kế hệ thống tự cân nhắc số lượng server tối đa mà hệ thống sẽ lên.
  • Sau khi có danh sách mapping giữa các node, ta sẽ tiến hành mapping key của data tới các node bằng cách
    • hash giá trị của key thành một số nguyên
    • Di chuyển nó liên tục trong vòng tròn số nguyên (hash ring) đã được tạo theo kim đồng hồ cho tới khi nó quay lại hash key của node đầu tiên nó gặp (đi 1 vòng). Ghi dữ liệu
  • Để dễ hình dung hơn, hãy xem hình ảnh sau
image 66 - quochung.cyou PTIT
  • Để quyết định request nào sẽ được phân bổ vào node nào. Thì ví dụ request có mã là 1000, nó sẽ cứ đi trên vòng tròn bảng giá trị trên và tìm node đầu tiên có mã lớn hơn 1000. nếu nó là lớn nhất rồi thì nó sẽ vòng lại node đầu tiên.
  • Ngoài ra, ví dụ trên hình ảnh trên, ta chỉ có node 1-5, nhưng ta sẽ tạo các “virtual node”, hay node ảo để băm cái vòng của chúng ta nhỏ hơn nữa, và các khoảng của node ảo sẽ quy định nó vào node thật sự nào.
  • Bằng một cách nói nào đó, mỗi server sẽ xử lí một “cung” trên đường tròn

Consistent hashing xử lí vấn đề scale như thế nào

  • Ta sẽ quay lại vấn đề, khi một node nào đó bị sập. Thì consistent hashing sẽ giải quyết bài toán đó như thế nào?
  • Solution nghe ra lại rất đơn giản, lúc này thì các khoảng vòng cung sẽ được kéo rộng ra, các request sẽ tự đi tìm đến vị trí note tiếp theo
image 67 - quochung.cyou PTIT
  • Rõ ràng, ta thấy lúc này chỉ những request ở vòng cung phía trước sẽ cần thay đổi mapping lại. Còn theo cách chia modulo, thì do số dư thường sẽ thay đổi gần như toàn bộ các số, ta sẽ phải di chuyển rất nhiều keys (Request)

Triển khai thuật toán

  • Cùng nhìn lại, chúng ta cần những gì để triển khai thuật toán này?
    • Ta cần một mảng ánh xạ quy đổi ra các node trên hash ring (vòng giá trị)
    • Một map để phân bổ request nào vào node nào
  • Như vạy, để phân bổ request vào các node, ta cần một cơ chế dạng
    • Một cách tìm kiếm nhanh node đầu tiên có giá trị lớn hơn mã của request hiện tại. Do mã của node được trải phẳng trên một khoảng tịnh tiến, dễ dàng, ta có thể triển khai tìm kiếm nhị phân để tìm node đầu tiên có mã lớn hơn bằng mã của request (Lower_bound)
    • Từ mã của node, tìm ra node thực sự để điều hướng
  • Thay đổi khi hash ring thay đổi
    • Để xác định những request nào cần di chuyển, có cách khá đơn giản là ta sẽ lặp và kiểm tra toàn bộ request, sau đó xác định cái nào bị sai để chuyển nó sang node tiếp theo trên vòng. Nhưng cách này rõ ràng là cách “naive method”.
    • Để có thể triển khai với thời gian tối ưu hơn, ta có thể sử dụng một cấu trúc dữ liệu để xác định “khoảng ảnh hưởng”, nơi mà các key cần remap lại
    • Một lần nữa, ta có thể triển khai tìm kiếm nhị phân, bằng cách từ node bị xoá đi, ta dùng mã đó và quay ngược lại, sau đó tìm ra các điểm bị sai và cập nhật chúng cho đến khi đến 1 mã node hash khác.

Các câu hỏi thêm

  • Q: Khi nào nên sử dụng kỹ thuật consistent hashing này ?
  • A: Thông thường, ta sẽ sử dụng nó cho các hệ thống phân tán, nơi mà request thực sự đủ nhiều, và ta có nhiều server cần scaling và cần áp dụng để phân bổ request một cách đều. Amazon Dynamo cũng triển khai kĩ thuật này. Tuy nhiên, với các hệ thống nhỏ hơn, có thể dùng cách ánh xạ chia dư truyền thống, vì việc sử dụng hashing khó hơn cũng đi kèm độ phức tạp của hệ thống tăng lên và khó bảo trì.

  • Q: Tại sao lại gọi là consistent trong consistent hashing (nhất quán)
  • A: Vì khi có sự thay đổi về lượng server, ta không cần hashing lại toàn bộ các key

Tham khảo:

[Pessimistic locking] Xử lí dữ liệu bất đồng bộ trong thực tế

image 54 - quochung.cyou PTIT

Pessimistic locking là gì?

Đọc vấn đề xảy ra về dữ liệu đồng thời tại : http://quochung.cyou/optimistic-locking-xu-li-du-lieu-bat-dong-bo-trong-thuc-te/

Pessimistic locking (Khoá bi quan) là một chiến thuật xử lí có thể tổng quát rằng, giả dụ, bạn có một tập dữ liệu đang bị truy cập đồng thời, người đầu tiên truy cập sẽ khoá tập dữ liệu này lại, độc quyền sửa đổi nó, cho đến khi phiên đó hoàn thành. Điều này đảm bảo dữ liệu sẽ chuẩn xác hơn khoá lạc quan, nhưng cũng có thể tạo ra Deadlock

Ví dụ bài toán

  • Bạn đang chơi một con game sinh tồn, có một chiếc rương chứa đồ chung mà hai người chơi đều có thể mở, nhưng nếu cả hai cùng mở, người này lấy đồ, người kia lại cho đồ vào, đôi khi dữ liệu sẽ bị loạn
  • Khoá bi quan sẽ xử lí như sau
  • Khi người chơi A mở rương, khoá rương lại. Lúc này người chơi khác ấn vào rương sẽ bị thông báo như dạng “rương đang được mở bởi người khác”, và không thể truy cập cho đến khi người chơi A đóng rương.
image 56 - quochung.cyou PTIT
image 57 - quochung.cyou PTIT

Deadlock

  • Deadlock xảy ra khi hai phiên không thể tiến triển được nữa, vì cùng phụ thuộc vào nhau chờ phía bên kia mở khoá, có thể xem hình dưới đây
image 58 - quochung.cyou PTIT
  • Ta có một database post chứa các bài viết. Trong đó có 1 bài viết id 1 và title là “Transaction”
  • Ngoài ra ta có 1 post chứa post_detail, là nội dung bài viết, số lượng like comment, …
  • Alice đầu tiên truy cập vào bảng post_detail, cập nhật số lượng like comment. Lúc này bảng post_detail thay đổi “người thay đổi cuối” thành Alice. Alice lock bảng post_detail
  • Lúc này Bob cũng truy cập vào bảng post, đổi tên nó thành thứ khác. Bob lock bảng post
  • Do bảng post và postdetail liên kết với nhau, lúc này ở phiên của Bob sẽ gọi về post_detail của post id 1 để thay đổi “người thay đổi” thành Bob. Tuy nhiên, nó đang bị khoá bởi Alice, vì vậy phải chờ Alice xong đã
  • Phía Alice lúc này cũng cập nhật lên bảng post, nhưng nó lại bị khoá bởi Bob, nên cũng phải đợi Bob xong đã
  • => Điều này trở thành vòng tuần hoàn vô hạn, cho đến khi hệ quản trị cơ sở dữ liệu có cơ chế phát hiện ra, và huỷ cả 2 phiên.

Deadlock ở mọi nơi: hệ điều hành, trong code đa luồng, ..

image 59 - quochung.cyou PTIT
  • Deadlock không chỉ xảy ra trong database, nó có thể xảy ra trong mọi hệ thống. Trong hệ điều hành, trong …., chỉ cần nếu chúng có thể truy cập từ nhiều nguồn cùng lúc
  • Ví dụ, đa luồng trong Java cũng có thể tạo deadlock khi 2 luồng cùng đợi nhau chứ không ai chạy trước

Cách xử lí

  • Khi Alice thực hiện khoá post, ta có thể khoá luôn cả post_Detail và các bảng liên quan
  • Hệ thống của ta cần có cơ chế phát hiện deadlock, ví dụ lock chờ đợi quá lâu, …

Đọc thêm:

A.C.I.D Transactions – Kiến thức cơ bản về database lập trình viên cần nắm vững

Lời mở đầu

In computer scienceACID (atomicityconsistencyisolationdurability) is a set of properties of database transactions intended to guarantee data validity despite errors, power failures, and other mishaps.[1] In the context of databases, a sequence of database operations that satisfies the ACID properties (which can be perceived as a single logical operation on the data) is called a transaction. For example, a transfer of funds from one bank account to another, even involving multiple changes such as debiting one account and crediting another, is a single transaction.

Bản dịch

Trong khoa học máy tính, thuật ngữ ACID gồm bốn yếu tố mà database transaction (phiên cơ sở dữ liệu) được xây dựng để đảm bảo dữ liệu sẽ luôn chuẩn xác, cho dù có xảy ra lỗi, vấn đề điện, …. Trong database, một dãy các câu lệnh database mà thoả mãn các tính chất ACID được gọi là một transaction (phiên). Ví dụ đơn giản, việc bạn chuyển tiền từ ngân hàng A sang ngân hàng B, chúng chứa rất nhiều sự thay đổi, như giảm tiền ở ví A, tăng tiền ở ví B, tạo thêm lịch sử, …. là một phine

Định nghĩa một Transaction

  • Một transaction (phiên) thể hiên một nhóm các câu lệnh được chạy trong database, thông thường chứa nhiều lệnh khác nhau
  • Ví dụ việc chuyển tiền trong ngân hàng gồm 4 câu lệnh từ tài khoản Alice sang tài khoản Bob
image 51 - quochung.cyou PTIT

ACID là gì

  • ACID, là viết tắt của 4 chữ cái đầu trong (Atomicity, Consistency, Isolation, Durability) là 4 tính chất của một transaction, nhằm đảm bảo dữ liệu luôn chuẩn xác, đúng điều kiện cho dù server sập, mất điện, ..
image 52 - quochung.cyou PTIT

Atomic – Tính đồng bộ

  • Đảm bảo rằng toàn bộ câu lệnh trong một phiên luôn phải đồng bộ trạng thái. Tức là, 1 là toàn bộ đều được chạy thành công, thay đổi xảy ra, hoặc là toàn bộ đều phải bị chặn, chứ không lọt cái gì riêng lẻ cả

Consistent – Tính nhất quán

  • Đảm bảo rằng một phiên chỉ có thể chuyển một database từ một trạng thái đang đúng (valid) sang một trạng thái valid (đúng) khác, ngăn chặn các dữ liệu bị lỗi, …
  • Các kiểu dữ liệu, kiểm tra, trigger, …. các điều kiện đều phải đảm bảo pass trước khi phiên chạy

Isolation – Tính cách ly

Durable – Tính bền bỉ

  • Đảm bảo rằng kết quả của phiên luôn được chắc chắn lưu trong hệ thống. Sự thay đổi phải được giữ cho dù hệ thống sập, mất điện, ….
  • Chúng có thể được lưu như 1 transaction log, … và khi hệ thống khởi động lại, ta có thể chạy lại mọi thay đối giữa chừng để đảm bảo dữ liệu ổn định

Các ưu điểm của ACID Transaction

Dữ liệu sạch

image 53 - quochung.cyou PTIT
  • Đảm bảo rằng dữ liệu luôn chuẩn, không bị mất mát. Tránh các cập nhật bị mất, dirty read, stale read (thảo luận bên dưới). Đảm bảo các tiêu chuẩn về dữ liệu cho phần code. Điều này là tuyệt đối cần thiết cho các hệ thống ngân hàng, tiền bạc, … vì mọi dữ liệu sai sót đều ảnh hưởng trực tiếp đến công ty. Xử lí các vấn đề sai sót ở ngay tầng database bằng sự nhất quán, chuẩn chỉnh được tạo ra bởi phiên ACID là một cách khá đơn giản.

Xử lí đồng bộ đồng thời (Concurrency)

  • Truy cập đồng thời xảy ra thường xuyên trong các hệ thống lớn. Ví dụ như một cái rương vật phẩm chung trong game, một số tiền chung trong tài khoản ngân hàng (tưởng tượng bạn nhận tiền và chuyển tiền cùng lúc), bảng xếp hạng trong game, ….
  • Tính chất Isolation – cách ly của ACID giúp các lập trình viên trong điều này
  • Database sẽ đảm bảo transaction với một ” serializable isolation”, lập trình viên có thể xử lí transaction một cách “tuần tự” như queue vậy, dù thực tế chúng xảy ra đồng thời.

Kiến trúc Stateful và Stateless là gì?

image 45 - quochung.cyou PTIT

Lời mở đầu

  • Trong khoa học máy tính, “state” nghĩa là một trạng thái của hệ thống, của một thành phần hoặc ứng dụng của chúng ta tại một điểm thời gian
  • Ví dụ: Bạn đang mua hàng trong amazon.com, ta có thể coi việc bạn “đang đăng nhập” là một trạng thái, “đang có hàng trong giỏ” là một trạng thái, ….
  • Trạng thái biểu diễn dữ liệu đang được lưu trữ, và giúp chúng ta kiểm soát hiện trạng hiện tại của ứng dụng.

Kiến trúc Stateful

  • Tưởng tượng bạn đến một cửa hàng pizza để ăn. Hiện tại quán chỉ có 1 phục vụ bàn, phục vụ bàn sẽ lấy các note từ bàn của bạn, bạn order gì, hay là những món bạn trước đây từng ăn, bạn có dị ứng gì không, …
image 46 - quochung.cyou PTIT
  • Tất cả những thông tin trên sẽ được phục vụ bàn ghi lại về một “state” hay trạng thái của khách hàng. Chỉ có phục vụ bàn có những thông tin này, nếu bạn dạo này thích ăn món gì đó khác hơn, hoặc bị dị ứng gì đó mới, bạn cần cập nhật đúng với phục vụ này để thay đổi. Nhưng mà cả quán chỉ có 1 phục vụ nên bạn không lo nhầm người.
  • Tưởng tượng rằng, quán ăn có đông khách hơn, và phục vụ phải phục vụ rất nhiều khach. Quán cần nhiều phục vụ hơn, tuy nhiên lúc này, nếu bạn muốn đổi khẩu vị hay món khác, thì nếu bạn chọn người phục vụ khác sẽ không được.
image 47 - quochung.cyou PTIT
  • Những nhân viên phục vụ khác thì chẳng có thông tin gì về state của bạn cả. Họ không thể đổi đơn hàng của bạn, hay đọc chúng. Nếu một nhà hàng hoạt động theo kiểu như vậy, tức là chỉ 1 phục vụ có thông tin của bạn, sẽ được gọi là cấu trúc stateful
  • Tưởng tượng về dạng server, một hệ thống stateful sẽ chỉ có 1 server duy nhất ghi nhớ dữ liệu của người dùng. Toàn bộ các request, làm việc sau này của 1 khách hàng sẽ chỉ được điều hướng vào người đó qua các trình load balancer (cân bằng tải) với 1 sticky session. Một server sẽ luôn biết client của mình là ai.
image 48 - quochung.cyou PTIT

  • Sticky session (phiên được ghim) là một cài đặt cho phép cân bằng tải (load balancer) điều hướng các request của người dùng đến riêng 1 server duy nhất trong quá trình 1 phiên của họ. (1 phiên có thể kết thúc khi người dùng tắt browser, tắt máy, sau 1 ngày, …)
  • Điều này đi ngược lại với cách cân bằn gtari truyền thống, khi mà request của bạn được phân bổ đến các server khác nhau bằng round-robin hoặc các cách phân bổ khác. (kiểu phân bổ dần 1->2->3->4 rồi lại quay về 1 theo thứ tự request, hoặc phân bổ random, …)
  • Cách làm trên nghe có vẻ khá ổn với các hệ thống nhỏ. Tuy nhiên, thế giới chúng ta không lý tưởng. Giả sử, nếu 1 server bị chết, bị dồn quá tải, … thì toàn bộ thông tin của người dùng với server đó sẽ mất hết, điều này hoàn toàn không ổn chút nào.
  • Hơn nữa, việc phân bổ dữ liệu như vậy cũng không tốt trong nhiều trường hợp. Ví dụ, có một số client gửi rất nhiều request, khiến cho 1 server bị quá tải, trong khi vài server khác lại chỉ có vài request nhỏ, khiến việc cân bằng chung không ổn.

Kiến trúc Stateless

  • Kiến trúc stateless, dịch thuần tiếng anh là (không có state). Không hẳn là không có state, mà lúc này các server – hay vị phục vụ bàn sẽ không trực tiếp nhớ xem là khách hàng order gì, thông tin như nào, mà thay vì đó, họ sẽ dùng một phần mềm gì đó, một điện thoại, một tờ giấy chung để ghi thông tin khách hàng. Khi đó, nếu phục vụ khác đến, họ chỉ cần đọc tờ giấy lưu trữ chung để xem khách hàng muốn gì.
image 49 - quochung.cyou PTIT
  • Bằng việc lưu các trạng thái của khách hàng ở một hệ thống chung nào đó, có thể truy cập bởi mọi phục vụ/server, server nào cũng có thể phục vụ chung 1 khách hàng.
  • Nhìn về khoa học máy tính, lúc này ta có thể phân bổ request của người dùng đến server bất kì, việc dữ liệu của người dùng có thể lưu ở 1 database nào đó khác biệt, có thể truy cập bằng mọi server.
  • Việc cân bằng tải cũng tốt hơn, vì lúc này ta có thể chọn các server sđang ít khách phục vụ, hoặc đánh theo tuần tự, …
image 50 - quochung.cyou PTIT

Tổng kết

  • Nhìn chung, stateless mang lại tính mở rộng lâu dài và ổn định tốt hơn stateful
  • Stateless/stateful không chỉ là cách thiết kế server, cân bằng tải như ví dụ trên. Mà có thể áp dụng vào các design pattern, các hàm trong code, ….

Tham khảo:

High Cohesion (Tương đồng cao) và Loosely Coupled (Liên kết lỏng)

image 36 - quochung.cyou PTIT

Mở đầu

Có thể bạn đã được nghe về các thuật ngữ này từ các câu hỏi trong các buổi phỏng vấn, trong một bài đăng medium nào đó, trong một cuộc thảo luận của anh em trong giang hồ. Vậy chính xác các term như high cohesion, low cohesion, loosely coupled, highly coupled có nghĩa là gì?

Cohesion (Tương đồng – Gắn kết)

image 34 - quochung.cyou PTIT

In computer programmingcohesion refers to the degree to which the elements inside a module belong together.[1] In one sense, it is a measure of the strength of relationship between the methods and data of a class and some unifying purpose or concept served by that class. In another sense, it is a measure of the strength of relationship between the class’s methods and data themselves.

Cohesion is an ordinal type of measurement and is usually described as “high cohesion” or “low cohesion”. Modules with high cohesion tend to be preferable, because high cohesion is associated with several desirable traits of software including robustness, reliability, reusability, and understandability. In contrast, low cohesion is associated with undesirable traits such as being difficult to maintain, test, reuse, or even understand.

Cohesion is often contrasted with coupling. High cohesion often correlates with loose coupling, and vice versa.[2] The software metrics of coupling and cohesion were invented by Larry Constantine in the late 1960s as part of Structured Design, based on characteristics of “good” programming practices that reduced maintenance and modification costs. Structured Design, cohesion and coupling were published in the article Stevens, Myers & Constantine (1974)[3] and the book Yourdon & Constantine (1979);[1] the latter two subsequently became standard terms in software engineering

Wikipedia

image 35 - quochung.cyou PTIT

Bản dịch

  • Trong khoa học máy tính, cohesion (tính tương đồng) thường được nhắc tới như một góc độ đánh giá nào đó, về việc các phần tử trong 1 module “tương đồng” với nhau.
  • Thông thường có thể nhắc tới việc sự liên kết bền chặt giữa các hàm (function) và các biến (property) trong 1 class có sự liên kết với nhau
  • Thông thường sẽ có 2 định nghĩa chính là “high cohesion” (tương đồng cao) và “low cohesion” (tương đồng thấp).
  • High cohesion thường đi cùng với việc code chặt chẽ hơn, dễ tái sử dụng, dễ bảo trì và dễ hiểu.

Vậy có thể hiểu là, high cohesion thường được ám chỉ các hàm và các biến trong 1 class đều cùng phục vụ mục đích, hoặc được sử dụng cho một ý nghĩa gì đó có tính tương đồng cao với nhau.

  • Trong cuốn Clean Code của Uncle Bobs có viết:
  • “Một class chỉ nên có ít biến. Các hàm trong class đó nên tác động lên một hoặc nhiều các biến trên. Nếu các hàm trong 1 class càng dùng nhiều các biến có sẵn, thì class có tính tương đồng càng cao”
  • => Tức là một class được đánh giá là tương đồng cao nên chỉ làm các tác vụ bên trong class đó, phục vụ chung 1 mục đích.

Ví dụ:

  • Bạn có một nhân vật trong 1 con game của mình. Bạn có các code logic cho việc nhân vật di chuyển từ các nút bấm trên bàn phím, và một số code logic để hiển thị việc nhân vật di chuyển trên trục toạ độ trên màn hình (render hình ảnh)
  • Nếu toàn bộ code đều nằm trong 1 class, code của bạn có 1 số hàm xử lí toán học cho nhân vật di chuyển, lại có 1 số hàm, biến để render hiển thị lên. Rõ ràng chúng có tính tương đồng yếu. Một cách đơn giản để nhận biết, bạn có thể nhìn các tên biến, tên hàm xem chúng có liên quan đến tên class không
  • Ví dụ: class tên là “InvoiceManager” (Quản lý hoá đơn), nếu có 1 hàm nào đó tên là “InHoaDon” thì cũng k ổn lắm, nó nên nằm trong “Printer”, hay có 1 hàm nào đó là “GuiEmailHoaDon” (thì hàm đó cũng nên làm trong class nào đó tên là EmailManager, …)

Coupled/Coupling (Tính liên kết)

  • Thoạt nghe thì nó có vẻ là 1 thuật ngữ trái ngược với cohesion? Vậy High Cohesion (tương đồng cao) thì sẽ có Tightly Coupling (Liên kết chặt) ?
  • Ở trường hợp này thì không. Cohesion thường dùng để xem xét giữa các phần tử (hàm, biến) trong 1 module (class). Trong khi Couple thường dùng để đánh giá tính liên kết giữa nhiều module
image 37 - quochung.cyou PTIT
  • Liên kết lỏng cho rằng, giữa các module với nhau, chúng không nên biết quá nhiều về nhau (liên kết quá chặt chẽ), mà chỉ nên giao tiếp với nhau qua 1 số phương thức mang tính “khái quát” nhất định một cách lỏng lẻo (loosely coupled)
image 39 - quochung.cyou PTIT
  • Ví dụ: Chiếc mũ đang “liên kết lỏng lẻo” với người đàn ông. Bạn dễ dàng thêm hoặc bỏ cái mũ ra mà không phải thay đổi gì người đàn ông cả. Khi code bạn làm được như vậy, thì nó là liên kết lỏng lẻo (loosely coupled)
image 40 - quochung.cyou PTIT

Ví dụ:

  • Bạn đang có một class xử lí việc bán lẻ bánh ở cửa hàng của mình tên là “CuaHang”. Cửa hàng sẽ lấy bánh từ class “XuongBanh”. Ban đầu class của bạn chỉ cần cứ lấy bánh từ Xưởng rồi bán thôi, việc rất đơn giản
image 41 - quochung.cyou PTIT
  • Nhưng một ngày đẹp trời, bạn nhận ra khách có vẻ thích những chiếc bánh có một chút muối, rồi thì bánh có thêm chút trang trí. Dĩ nhiên việc thêm chút thứ gia vị này, bạn cần thêm một chút tiền vào giá hàng, bạn sửa code thành như sau:
image 42 - quochung.cyou PTIT
  • Bạn có thể thấy, điều này đáp ứng nhu cầu của bạn. Tuy nhiên bạn thấy rõ ràng lúc này class Banh và CuaHang đang gắn rất chặt với nhau. CuaHang can thiệp quá nhiều vào class Banh, và có những phương thức không phù hợp lắm. (CuaHang chỉ nên là bán hàng thôi, chỉ nên có giá tiền). Rõ ràng bạn có thể làm chúng liên kết lỏng hơn như sau:
image 43 - quochung.cyou PTIT
  • Rõ ràng, lúc này class CuaHang chỉ cần tập trung lấy bánh và sau đó tính ra tổng tiền. Không cần quan tâm giá từng loại bánh từ xưởng nữa, vì việc tính tiền giá trị 1 đơn hàng sẽ được thực hiện bởi 1 class khác. CuaHang chỉ cần biết tôi sẽ có được tổng tiền từ hàm này, chứ không cần biết chính xác các class kia sẽ cụ thể làm gì, tính cái gì nữa (liên kết lỏng)
  • Mở rộng hơn nữa, ví dụ một ngày bạn muốn bán kẹo thì sao? Bán gấu bông? … Nhu cầu thị trường luôn thay đổi, bạn luôn muốn giàu hơn và mở rộng hơn nữa, lúc này bạn lại nhận ra, class CuaHang đang phụ thuộc quá nhiều vào xưởng bánh, mà thực chất ta chỉ cần lấy ra danh sách sản phẩm từ 1 xưởng nào đó thôi, ta có thể sửa thành như sau:
image 44 - quochung.cyou PTIT
  • Ta tạo 1 interface VatPham luôn có 1 phương thức tinhTien(), sau này, ta có thể làm bánh, kẹo, trái cây, .. chỉ cần chúng implement interface VatPham, ta luôn đảm bảo ta có thể lấy giá tiền từ chúng, còn implemention thực tế chúng tính tiền thế nào là việc của class con đó.
  • Tương tự, ta có 1 interface XuongSanXuat luôn trả về các danh sách vật phẩm, chúng có thể là xưởng bánh trả về bánh, xưởng kẹo trả về kẹo
  • Cửa hàng bây giờ khi khởi tạo có thể truyền vào xưởng mà chúng sẽ nhận đồ để bán
  • Cuối cùng, chuỗi cửa hàng của ta với nhiều cửa hàng, có thể có cửa hàng bánh, cửa hàng kẹo, còn việc chúng tính tiền thế nào làm gì cũng không phải việc của class lớn nữa. Dự án đã lỏng lẻo hơn nhiều ban đầu, và dễ mở rộng hơn.

Tổng kết

  • Với các dự án lập trình, thông thường chúng ta nên nhắm tới việc đạt được cùng lúc 2 yếu tố: High Cohesion (tương đồng cao trong 1 class/module) và Loosely Coupled (liên kết lỏng giữa nhiều module)
  • Việc đạt được 2 yếu tố trên giúp code dễ mở rộng, dễ bảo trì, ta dễ dàng tìm được nguyên căn nơi tạo lỗi vì chúng không share chung các code nhỏ với nhau, nên lỗi chỉ nên từ 1 nguồn
  • Đây là 1 kĩ năng thiết yếu với lập trình viên cho các dự án ngày càng cần mở rộng
  • High Cohesion cũng khá tương đồng với SRP trong SOLID, bạn có thể tìm hiểu thêm về SOLID tại đây http://quochung.cyou/tim-hieu-solid-5-nguyen-tac-thiet-ke-huong-doi-tuong-bang-java/

[Tìm hiểu React – Phần 1] Tại sao React ra đời

image 32 - quochung.cyou PTIT

Tại sao lại cần React? Viết bằng Javascript thuần không ổn sao?

Mọi thứ xuất hiện đều có lí do của nó. Thời kỳ đầu tiên của lập trình web, đa số chúng ta chỉ có các web tĩnh, có thể là các trang đọc báo, trang tài liệu wiki, …. Các dữ liệu trên trang thường không thay đổi. Điều này kéo dài một thời gian, tuy nhiên chúng ta ngày càng mong muốn nhiều hơn, chúng ta muốn những website “động”, những website mạng xã hội mà bài viết được cập nhật mỗi lần tải trang, những trang web mà có thể nhận/gửi tin nhắn mới, những trang web có các video mới như Youtube, …

Trước khi React sinh ra

  • Hãy tưởng tượng một bài toán thực tế. Ta có một cái nút “đăng nhập”, khi người dùng nhấn nút, yêu cầu của bài toán cần có 4 trạng thái như sau:
    • Nút trước khi bị ấn hiển thị màu xanh dương, ghi là “Nhấn để đăng nhập”
    • Nút khi bị ấn hiển thị màu xanh dương nhưng đen đi một xíu do đang bị ấn, hiển thị chữ “đang đăng nhập”
    • Sau khi đăng nhập hoàn thành, nút chuyển sang màu xanh lá, hiển thị “đăng nhập thành công”
    • Sau khi đăng nhập thất bại, nút chuyển sang màu đỏ, hiển thị “đăng nhập thất bại”
image 33 - quochung.cyou PTIT
  • Chúng ta tưởng tượng, code xử lí đăng nhập sẽ trong file javascript, còn cái nút thì ở file html. Như vậy, để cập nhật trạng thái màu, chữ của nút, ta thường phải làm các bước sau:
    • Lấy DOM của nút, tức là trong file xử lí code cần cho ngôn ngữ lập trình biết là ta muốn thay đổi cái nút nào. thường ta sẽ sử dụng các cú pháp như document.getElementById (Lấy một dom bằng định danh ID), hoặc document.querySelector (Lấy bằng query), ….
    • Thêm một event listener là khi nhấn nút sẽ chạy hàm nào đó, chạy logic gì đó cho nút
    • Viết code xử lí hàm thay đổi nút
    • Xoá listener, reset mọi thứ về ban đầu khi tải lại trang -> nút về trạng thái chưa ấn

Oke, hãy thử làm bài toán này, đầu tiên hãy tạo nút chúng ta cần ở HTML

<button type="button" id="dangnhapbutton">Đăng nhập</button>

Tiếp theo trong Javascript, ta tìm nút trên để thêm hàm xử lí khi nhấn cho nó

const dangnhapbutton = document.getElementById("dangnhapbutton"); //lấy nút theo id
dangnhapbutton .addEventListener("click", () => { //thêm event khi ấn 
  // xử lí khi ấn ở đây
});

Oke, giờ giả sử, khi ấn nút, thì nó cần hiện là “Đang đăng nhập”, ta sửa code dạng như sau

const dangnhapbutton = document.getElementById("dangnhapbutton"); //lấy nút theo id
dangnhapbutton .addEventListener("click", () => { //thêm event khi ấn 
  dangnhapbutton.textContent = "Đang đăng nhập"; //hiển thị đang đăng nhập
});
  • Giờ thì khi ấn nút, nút từ “đăng nhập” sẽ được chuyển thành “đang đăng nhập”. Tuy nhiên chúng ta cần nó hiển thị đăng nhập thành công, hoặc đăng nhập thất bại, hoặc sau 1 lúc thì nó lại chuyển về “đăng nhập”. Giờ làm sao nhỉ? Ta cần một cách nào đó để biết là nút đang ở trạng thái nào phía hiển thị, sau đó tuỳ nó đang ở trạng thái gì thì sẽ chuyển sang trạng thái mới.
  • Ví dụ ta thử làm Khi ấn 1 lần, chuyển đăng nhập -> đang đăng nhập. ấn tiếp thì chuyển lại về đăng nhập
<button type="button" id="dangnhapbutton" data-dangnhap="false">Đăng nhập</button> //ta cần một attribute data-dangnhap để lưu trạng thái phía hiển thị
const dangnhapbutton = document.getElementById("dangnhapbutton"); //lấy nút theo id
dangnhapbutton .addEventListener("click", () => { //thêm event khi ấn 
  const trangthai = dangnhapbutton .getAttribute("data-dangnhap") === "true"; //lấy trạng thái phía frontend xem là đăngn hập chưa
  dangnhapbutton .setAttribute("data-dangnhap", !trangthai ); //đảo ngược trạng thái
  dangnhapbutton .textContent = trangthai  ? "Đang đăng nhập" : "Đăng nhập"; //tuỳ trạng thái là 0 hay 1 thì cập nhật trạng thái mới 
});
  • Vấn đề cơ bản như 1 nút chỉ tắt bật như vậy. Nhưng ta phải lưu cùng lúc 1 attribute thông số gì đó ở phía html, rồi lại lưu 1 biến ở phía code để xử lí. Giả sử ta có 4 trạng thái, 10 trạng thái gì đó, ta sẽ phải lưu 10 cái ở phía html, rồi lấy ra 10 cái ở javascript rồi if else logic xử lí…
  • Điều này rõ ràng rất khó scale mở rộng hệ thống hơn. Sẽ ra sao nếu web của ta có rất nhiều nút? Ta sẽ có 1 đống code thừa trùng lặp, ta phải code rất nhiều cho một tác vụ tưởng chừng đơn giản, …
  • Liệu có cách nào để chúng liên kết với nhau, để ta có thể xử lí qua lại dễ dàng hơn không nhỉ?

Thời điểm này, việc tạo ra một cách thuận tiện, dễ mở rộng cho frontend là một thử thách với các công ty. Đây là tiền đề cho sự ra đời cho một số cái tên nổi tiếng, mà chắc bạn đã từng nghe qua như: Backbone, KnockoutJS, AngularJS, and jQuery.

Hãy cùng xem những giải pháp trên có gì khác với React, các cách tiếp cận khác nhau của từng giải pháp

Đọc tiếp phần 2:

[Optimistic locking] Xử lí dữ liệu bất đồng bộ trong thực tế

image 30 - quochung.cyou PTIT

Optimistic locking là gì?

Đây là một kĩ thuật xử lí vấn đề khi người dùng cùng làm việc trên một tập dữ liệu, nhưng sẽ không ảnh hưởng đến nhau. Nói cách khác, không có một khoá hay vấn đề gì ngăn cản người dùng cả, chúng ta chỉ kiểm tra lazy xem đang có một phiên nào khác đang sửa tập dữ liệu này không. Nếu có, ta sẽ rollback lại dữ liệu

Bài toán thực tế

  • Giả sử, bạn đang làm việc trên một bài toán khá đơn giản: một cửa hàng bán đồ điện tử. Nhiệm vụ của bạn là một giao diện admin để có thể lấy toàn bộ sản phẩm, thêm mới, cập nhật vài sản phẩm nào đó, xoá vài sản phẩm đi. Một bài toán CRUD đơn giản.
optimisticlocking - quochung.cyou PTIT
  • Lúc này, ta có 2 nhân viên đang trực ca và sử dụng hệ thống – Alice và Bob. Một ngày đẹp trời, Alice mới nhập kho vài chiếc màn máy tính phiên bản mới “Acer 2023”, cô muốn sửa tên “Acer 2022” trong sản phẩm cửa hàng thành “Acer 2023”. Đúng lúc này, Bob cũng đang muốn sửa tên của sản phẩm “Acer 2022” một cách fancy hơn, như là “Acer 2022 144hz”.

Quá trình xảy ra như sau:

  • Alice mở thông tin của món hàng, mở lên giao diện sửa tên. Bỗng nhiên, máy pha cà phê của cô báo hoàn thành, cô lập tức chạy đi lấy cà phê
  • Ở phía Bob, anh cũng đang mở thông tin món hàng “Acer 2022”, sửa tên thành “Acer 2022 144hz”, sau đó đi chơi
  • Alice quay trở lại, cô cũng nhập tên “Acer 2023”, sau đó ấn nút save
  • Bob đi chơi về và: ủa? sao lại thành tên này rồi?. Anh hỏi Alice thì cô cũng một mực khẳng định là tên hiển thị trong giao diện sửa của cô lúc sửa là “Acer 2022”, chứ chưa phải là “Acer 2022 144hz”

Vậy ai là người sai ở đây?

  • Là Alice, người ấn save lần cuối
  • Hay là Bob, người ấn đầu tiên?

Để xử lí vấn đề này, Optimistic locking đưa ra cách giải quyết là: các user cần được cập nhật rằng tập dữ liệu đã thay đổi

Một vài ví dụ có thể bạn từng thấy trong các ứng dụng về Optimistic locking

  • Bạn đang ở màn hình chọn voucher của shopee, sau khi chọn xong và chuẩn bị thanh toán. Lúc ấn thanh toán, bạn được báo “một vài voucher đã hết/thay đổi, vui lòng xem lại”
  • Bạn đang xem giá xe ở Grab, thì có thông báo yêu cầu reload lại do giá đã thay đổi
  • Bạn xem một post ở Facebook, lúc viết comment thì có thông báo “bài viết có thể không tồn tại nữa”
  • Khi bạn thực hiện commit

Các phase của Optimistic locking

  • Lưu lại timestamp, thời gian cuối khi mà một phiên bắt đầu
  • Bắt đầu sửa dữ liệu
  • Validate kiểm tra lại, kiểm tra xem thời gian lần cuối lưu ở phía client có giống với thời gian ở phía database không
  • Nếu không có conflict xảy ra, cập nhật mọi dữ liệu. Còn không thì resolve nó, có thể là huỷ phiên hiện tại, hoặc cho phép merge, ….
image 31 - quochung.cyou PTIT

Áp vào bài toán của chúng ta, ta có flow như sau

  • Alice thực hiện sửa ở phía local của Alice, ở database lúc này lưu “số phiên bản” của món đồ này là 1
  • Bob thực hiện sửa, sau đó lưu lại. Database cập nhật phiên bản lúc này đã là “2”
  • Alice ấn nút lưu, phát hiện phiên bản sai lệch, đưa ra cách xử lí nào đó cho người dùng

Tổng kết

Optimistic locking ngăn các vấn đề conflict dữ liệu xảy ra bằng cách kiểm tra conflict, sau đó tạo ra các cách resolve nó (merge, bỏ phiên, …)

  • Nó được gọi là Optimistic locking (khoá lạc quan)…. vì chúng ta lạc quan là khả năng conflict khá ít xảy ra
  • Phù hợp với nhiều món hàng, record và ít nguwofi dùng
  • Cho phép 1 cách nhiều người dùng làm trên 1 dữ liệu
  • Tốn ít công sức hơn, không cần khoá, …
  • Nhưng nếu conflict xảy ra, thường user sẽ phải làm lại phiên hoàn toàn …

Tham khảo:

Đọc thêm:

Vấn đề khi sử dụng số hoặc UUID cho Primary Key trong database

Lưu trữ dạng số

image 23 - quochung.cyou PTIT

Đây có lẽ là cách lưu trữ thường được thấy và dễ tưởng nhất. Trường primary key sẽ đóng vai trò như số thứ tự, giúp phân biệt giữa các row khác nhau, cách lưu trữ bằng số có thể được DB tự gen bằng cách gen sequence.

  • Khá tiện quản lý, sử dụng trong tầng dữ liệu
  • Dễ hiểu, dễ đọc, dễ tìm

Điểm trừ của cách làm này là:

  • Giả sử bạn đang lưu trữ dữ liệu cho 1 tệp khách hàng, được đánh id từ 1-1000, một ngày nào đó, bạn cần migrate data từ các bảng khác, từ những bảng cũ, … (kiểu sát nhập công ty, …) và cũng có tập dữ liệu được đánh số từ 1-100, 500-1000 gì đó. Điều này làm việc sát nhập trở lên khó khăn hơn do key chính để phân biệt các hàng đã bị trùng
  • Việc đánh số tuần tự cũng có thể tạo các risk về security, … Ví dụ bài viết đang được lưu đơn giản đánh bài viết số 1,2,… Từ đó từ bên ngoài có thể đoán được và truy cập được 1 bài viết bất kì.

Lưu trữ bằng UUID

image 24 - quochung.cyou PTIT

Lúc này, một cách làm khác đã thường được sử dụng là UUID (Universally unique identifier). Sẽ khó có ai có thể đoán được uuid của 1 bài viết được sinh ra ngẫu nhiên.

  • UUID được sinh ngẫu nhiên, tỉ lệ trùng lặp là rất thấp
  • Tránh được việc user tự mở 1 bài viết bất kì
image 25 - quochung.cyou PTIT

Tuy nhiên nó cũng đi kèm một số nhược điểm quan trọng

  • UUID dài. Để lưu trữ 1 uuid, thông thường ta cần tới 16 byte. Nó tốn dữ liệu hơn nhiều trong database so với lưu số thông thường. Sau này, khi ta sử dụng các database quan hệ giữa nhiều bảng, việc join các cột foreign keys sẽ ngày càng lớn hơn giữa các primary key
  • UUID do được sinh random, nên database sẽ khó lòng index một bảng để truy vấn nhanh hơn (VD MySQL sử dụng B+ Tree, cần một trường nào đó đánh theo một dãy giá trị có thể sắp xếp được: số, …).

Một số cách làm khác

  • ULID (Universally Unique Lexicographically Sortable Identifier). Vẫn là 16 byte, nhưng phần đầu sẽ chứa dữ liệu của timestamp (ngày tháng), và còn lại là ngẫu nhiên. Điều này giúp xử lí việc index database, dễ sắp xếp hơn
  • TSID (Time-Sorted Unique Identifiers). Cũng giống với ý tưởng của ULID nhưng chỉ tốn 8 byte. Tuy nhiên chúng cũng đi kèm với 1 số tradeoff

Đi sâu vào TSID

Có nhiều cách để triển khai TSID, trong bài này mình sẽ nói về Hypersistence TSID (Thư viện OSS), cho phép tạo 1 TSID 64-bit gồm 2 phần

  • 42-bit là dữ liệu thời gian
  • 22 bit là dữ liệu random

Thêm vào maven

<dependency>
    <groupId>io.hypersistence</groupId>
    <artifactId>hypersistence-tsid</artifactId>
    <version>${hypersistence-tsid.version}</version>
</dependency>

Tạo 1 object TSID

TSID tsid = TSID.fast();

`Từ TSID, ta có thể extract ra được thời gian

image 26 - quochung.cyou PTIT
image 27 - quochung.cyou PTIT
image 28 - quochung.cyou PTIT

Sử dụng vào database

Vì TSID là một số 64-bit (có thể sắp xếp), ta có thể lưu nó vào database dưới dạng bigint

CREATE TABLE post (
    id bigint NOT NULL,
    title varchar(255),
    PRIMARY KEY (id)
)

Lưu ở phía Entity

@Entity
@Table(name = "post")
public class Post {
 
    @Id
    private Long id;
 
    private String title;
     
}

Tổng kết về TSID

  • Đa phần giữ được các ưu điểm của UUID như khó đoán ở phía người dùng, tạo sự phân biệt, …
  • Lưu trữ nhẹ hơn UUID (8 byte vs 16 byte)
  • Tuy nhiên TSID có thể có tỉ lệ bị sinh ra ngẫu nhiên trùng cao hơn do chỉ có 22bit ngẫu nhiên (xác suất sinh trùng là 0.3%)

Xử lí việc sinh trùng, bạn có thể thêm số lần retry để tự động sinh lại nếu xảy ra collision

image 29 - quochung.cyou PTIT

Khi nào nên sử dụng TSID

  • Phần ID có thể expose cho phía client người dùng, ví dụ như id bài viết, video, …. còn các bảng phụ hỗ trợ liên quan có thể cứ dùng dạng số để thuận tiện và tiết kiệm
  • Các database expose cho người dùng, cần tính đến việc scale lâu dài, và tiết kiệm

Tham khảo: