Đây là một plugin hỗ trợ tạo 1 class Java đơn giản (POJO – Plain Old Java Object) từ JSON. Khi cài đặt, chỉ cần chuột phải vào 1 package, New -> Generate POJOS from JSON, và chọn tên class
Jump to Line
Cho phép bạn nhảy đến bất kì dòng code nào khi đang ở chế độ debug. Hiểu đơn giản, bạn có thể nhảy để chạy luôn một đoạn code mà không cần chạy các code trước đó
SonarLint
Một plugin cực kì mạnh giúp bạn tìm và sửa bug, ngoài ra nó cũng có thể detect các vấn đề bảo mật, các đoạn code không clean, … khi bạn đang viết
SonarLint hỗ trợ nhiều ngôn ngữ giúp lập trình viên viết code clean hơn và nhanh hơn
JPA Buddy
Một bộ công cụ giúp bạn làm việc với JPA dễ dàng hơn, có giao diện và khả năng sinh code để làm việc với các thư viện nổi tiếng như HIbernate, Mapstruct, Lombok, …
Maven Helper
Giúp bạn kiểm tra và tìm các dependency có vấn đề với nhau trong maven.
GenerateAllSetter
Giúp bạn nhanh chóng sinh hàm setter nhanh với giá mặc định
CodeGlance
Giúp bạn có một cái nhìn tổng quan về file code hiện tại, dễ dàng di chuyển đến các mục code bạn đang cần tìm
Ngôn ngữ lập trình Java được thiết kế để trở thành một ngôn ngữ không phụ thuộc vào nền tảng (machine-independent). Java có thể chạy trên bất kỳ nền tảng nào miễn là có máy ảo Java (Java Virtual Machine – JVM). Máy ảo Java là một chương trình có thể chạy trên nhiều nền tảng khác nhau mà không cần phải biên dịch lại. Máy ảo Java có thể chạy trên các máy tính, điện thoại, máy tính bảng, máy chủ, … Máy ảo Java có thể được cài đặt trên các hệ điều hành khác nhau như Windows, Linux, Mac OS, …
Java vừa đủ mạnh với nhiều thư viện, tính năng, bảo đảm các sự chặt chẽ, nhưng cũng đồng thời chạy rất nhanh. Java có thể được sử dụng để phát triển các ứng dụng desktop, web, mobile, game, … Java cũng là một trong những ngôn ngữ lập trình được sử dụng nhiều nhất hiện nay.
Java Virtual Machine (JVM)
Không như C/C++ khi mà code được biên dịch thì sẽ tạo thành các mã lệnh được làm cho riêng các vi xử lý khác nhau. Code java đầu tiên được biên dịch thành một dạng tổng quát – bytecode, là ngôn ngữ cho JVM chạy. Sau đó JVM mới chạy thành các ngôn ngữ máy cho nền tảng đó.
Trình tự hoạt động:
JRE – Java Runtime Environment
The Java Runtime Environment (JRE) provides the libraries, the Java Virtual Machine, and other components to run applets and applications written in the Java programming language. In addition, two key deployment technologies are part of the JRE: Java Plug-in, which enables applets to run in popular browsers; and Java Web Start, which deploys standalone applications over a network. It is also the foundation for the technologies in the Java 2 Platform, Enterprise Edition (J2EE) for enterprise software development and deployment. The JRE does not contain tools and utilities such as compilers or debuggers for developing applets and applications.
JRE – đúng như tên của nó (môi trường chạy java) chứa các thư viện, chứa cả JVM ở bên trong, và một số thành phần khác để chạy được các phần mềm Java. Hiểu đơn giản, nếu bạn có 1 file jar, 1 chương trình java, chỉ cần có JRE là bạn có thể chạy chúng.
JDK – Java Development Kit
JDK (Java Development Kit) – Bộ công cụ lập trình Java
Hiểu đơn giản thì JDK chứa JRE và thêm một số công cụ khác để hỗ trợ cho việc lập trình, compile các file code .java sang file .class (đọc thêm bên dưới)
Cấu trúc chương trình Java
Trong file source code, chứa “class” (lớp)
Mỗi “class” chứa nhiều “method” (hàm) khác nhau.
Mỗi “method” chứa nhiều “statements” (dòng lệnh) khác nhau.
Ví dụ 1 file class:
```
public class HelloWorld {
public static void main(String[] args) {
System.out.println("Hello World!");
}
}
```
Khi một dự án Java chạy, JVM sẽ tìm class bạn để là class đầu tiên khởi chạy, rồi sau đó tìm đến method main để chạy.
public static void main(String[] args) {
// đây là hàm đầu tiên được chạy
}
Khi code các ứng dụng backend bằng Java với Spring Framework, khả năng cao là bạn đã gặp qua một đoạn code sử dụng @Autowired. Tuy nhiên, nếu bạn sử dụng một số phần mềm lint để kiểm tra code, bạn có thể thấy các phần mềm sẽ cảnh báo @Autowired is deprecated (Autowired không được khuyến khích sử dụng nữa, cách làm không tốt)
Nhìn sơ qua thì đây có vẻ là một cách đơn giản và nhanh gọn để thực hiện DI qua Spring. Chỉ cần khai báo các dependency rồi thêm một annotation (@Autowired), các phần liên kết sẽ được Spring xử lí
Tuy nhiên, cách làm phổ biến này lại có thể dẫn đến nhiều vấn đề về sau này. Hãy thử xem qua các thủ pháp DI được sử dụng qua Spring Framework và các ưu nhược điểm của chúng
3 cách thực hiện Dependency Injection trong Spring Framework
Field Injection
Field Injection chính là tên gọi của cách inject dependency khi ta khai báo bằng @Autowired
Về cơ bản khi khai báo annotation này trên 1 field, method, constructor. Spring sẽ tự tìm dependency phù hợp và kết nối chúng với nhau.
@Autowired về mặc định không sai, tuy nhiên nếu sử dụng không hợp lí chúng có thể gây ra một số vấn đề về sau.
Ví dụ với một code như sau:
Khai báo một Multiplier trong Calculator nhanh chóng bằng @Autowired sẽ không báo lỗi gì khi compile, về cách hoạt động, khi chạy chương trình, Spring sẽ tự tìm kiếm dependency và kết nối chúng với nhau
Tuy nhiên, vì chúng tự động, nên ta thiếu kiểm soát hơn phần này. Tức là lúc này ta không có cách nào để thêm thủ công dependency nữa cho các hoàn cảnh khác ngoài lúc chạy ứng dụng (VD khi chạy test)
Ví dụ như code trên sẽ không báo lỗi, tuy nhiên khi chạy test thì chúng có thể throw NullPointer
Lí do là ở file test trên thì chúng ta đang không có chỗ nào liên kết với Spring cả, vì vậy Spring sẽ không quản lý các bean mà ta đã tạo (Khai báo @Component ở các class kia) nên chúng sẽ không nối vào nhau được -> Ta sẽ bị null pointer vì Multiplier không được khởi tạo lên
Để xử lý vấn đề này, thì nếu sử dụng 2 thủ pháp DI bên dưới (Constructor Injection và Setter Injection) , ta có thể có nhiều khả năng kiểm soát hơn và thêm dependency một cách thủ công mà không qua Spring, tạo nhiều khả năng hơn cho việc test
Hoặc, ta có thể khai báo @SpringBootTest để Spring quản lý file test này và tự động thực hiện việc gắn các bean mà không cần gắn chay
Setter Injection
Cách làm trên như tên của nó, ta sẽ set một dependency của class lớn hơn ở thời điểm runtime
Cách làm này cho phép ta dễ dàng thay đổi dependency của một class trong runtime, ví dụ như đổi 1 repo khác 1 service nào đó, …
Tuy nhiên, ngoài ưu điểm là sự flexible khi set ở runtime, thì nó cũng đi cùng vài nhược điểm khác
Do được set trong runtime, ta đôi khi có thể gặp phải NullPointer khi dependency chưa được khởi tạo, là null, … (vì lúc này chúng là optional, không bắt buộc với class nữa)
Do nó lỏng lẻo hơn nên lúc này với các method trong class gọi đến dependency, ta không được đảm bảo là dependency đã được set, hoặc ta lại phải thêm code để kiểm tra là có dependency chưa, 1 là thêm code, 2 là dẫn tới nullpointer
Với cách làm như thế này, ta có thể không cần Spring quản lý các bean mà có thể test chay hơn, có nhiều quyền kiểm soát hơn vào việc quản lý các dependency
Constructor Injection
Như tên của thủ pháp, ta sẽ thêm dependency cho 1 class ngay tại thời điểm khởi tạo class cha
Ở file test trên, mình đang sử dụng mock để dựng class multiplier lên theo kèm để gắn vào Calculator qua constructor
Việc này đảm bảo 1 class luôn có đủ dependency để khởi tạo (tuỳ theo cách custom constructor)
Hoặc mình hoàn toàn có thể làm như thế này
(Việc sử dụng mock cho phép nhiều khả năng khác trong test hơn, ví dụ mình có thể kiểm tra xem một hàm trong class đó được gọi bao nhiêu lần, … , chúng được quản lý theo dạng Proxy Design Pattern, mình sẽ nói ở bài viết khác)
Bạn có thể đọc thêm bài viết này về một số khái niệm trong Spring như IoC, Bean, …
Vào những ngày đầu tiên thuở sơ khai, chưa có một “mô hình hệ thống” hay “architecture” nào tồn tại cả. Giang hồ lúc này mạnh ai nấy làm, bạn chỉ cần biết GoF Pattern thì có thể tự xưng bá một phương, là một “architect”, một lập trình viên dày dặn trong nghề.
Thời gian thắm thoắt thoi đưa, từ những cái máy tính to bằng cả cái phòng, từ những chiếc ổ cứng dày cộp chỉ chứa vài MB, công nghệ ngày càng phát triển, máy tính dần thu gọn hơn, ngày càng mạnh mẽ hơn, tiếp cận đến nhiều người hơn. Lúc này, yêu cầu của người dùng ngày càng tăng chóng mặt, khiến cho độ phức tạp của các phần mềm gia tăng.
Thứ đầu tiên những cao thủ trong ngành tạo ra là (Tách UI ra khỏi các logic bussiness), từ hình thái này, các mô hình MVC đầu tiên đã được ra đời:
Hiểu một cách đơn giản, hãy nghĩ đến ứng dụng Facebook và website Facebook. Liệu các câu lệnh như: lấy dữ liệu các bài viết người dùng mới nhất, lấy dữ liệu của 1 trang profile có khác biệt về mặt logic khi ở trên điện thoại hay trên web? Câu trả lời là không, điểm duy nhất khác biệt chỉ là UI hay View (phần hiển thị với người dùng)
Việc tách biệt UI ra khỏi Logic giúp ứng dụng modun hoá hơn, ta có thể dùng chung 1 logic, và khi cần hiển thị trên 1 sản phẩm khác: web, điện thoại, màn hình tivi, màn hình ô tô, … , ta chỉ cần nối phần UI của thiết bị đó với các logic đã chìa ra là được.
Nghe có vẻ như vấn đề đã được giảm bớt 1 chút. Nhưng chưa phải là tất cả, lúc này View có thể chỉ là vài tấm ảnh, một cái nút, Controller sẽ là người ở giữa trung chuyển các câu lệnh, và phần lớn logic bị dồn xuống Model, nơi thường xuyên phải lưu dữ liệu vào database, file, … hay nhìn chung là trực tiếp vào các “đối tượng” của chúng ta.
Một mô hình “lí tưởng” không tồn tại, cũng như mọi thứ, chúng đều là thành quả của nhiều lần thử nghiệm, và được rút kinh nghiệm rất nhiều lần.
Một lập trình viên đã tiên phong trong việc tạo ra một mô hình hệ thống, góp phần ảnh hưởng lớn đến rất nhiều thế hệ lập trình viên sau này tên là Martin Fowler.
Ý tưởng khá đơn giản, ta sẽ phân loại và nhóm các phần code liên quan đến nhau lại thành “1 tầng”, khi đó ta sẽ có nhiều tầng xếp chồng lên nhau.
Tuy nhiên, Fowler cũng biết việc không nhất quán sẽ xảy ra nếu cứ mỗi ông lập trình viên lại xếp các tầng một cách vô tổ chức, ông đã thêm một số “quy tắc” nhỏ góp phần đồng bộ:
Bạn có thể đặt tên một layer – tầng là gì cũng được
Bạn có thể có bao nhiêu layer tuỳ thích
Bạn có thể thêm một layer ở giữa các layer thường có
Bạn có thể có nhiều thành phần trong 1 layer
Quan trọng là: cần có một hệ thống cấp bậc rõ ràng giữa các layer, chúng nên gọi đến nhau theo từng cấp một.
Điều này đã giúp các ứng dụng giảm bớt các code trùng lặp, và cũng làm cho code có một cấu trúc rõ ràng.
Thông thường đa số ứng dụng chỉ cần 3 tầng là đã có thể phục vụ các nhu cầu cơ bản
User Interface (UI) — chịu trách nhiệm tương tác với người dùng (giao diện)
Business logic layer (BLL)— Xử lí các logic chính của hệ thống
Data Access layer (DAL) — Là tầng giao tiếp với dữ liệu như database, …
Bạn có thể thấy trong các video hướng dẫn làm các dự án backend bằng Spring Boot, người ta thường có một 1 tầng Service (Bussiness), sau đó mới gọi xuống tầng Repository (Data Access), nơi mà giao tiếp trực tiếp với database.
Các tầng sẽ gọi đến nhau qua các interface, ví dụ: có một interface là OrderRepository phục vụ lấy dữ liệu từ db. Lúc này, tầng bussiness chỉ cần quan tâm sẽ thực hiện các giao thức lấy dữ liệu của interface này, còn logic thực sự ở tầng data access sẽ được ta viết từ các class implement interface trên.
=> Ví dụ: ta có 1 interface OrderRepository. ta có 2 class khác implement interface trên là OrderRepositoryImplMongo, OrderRepositoryImplMySQL. Do cả 2 cùng implement orderrepo, nên từ bussiness ta có thể dễ dàng lắp một class khác cho 1 database khác, thuận tiện cho việc xử lí. (Bạn có thể đọc thêm Dependency Injection)
Chương 3: 2003 – Domain Driven Design (DDD)
Tưởng chừng N-Layered đã có thể xử lí được các vấn đề hiện tại, tên tuổi của Fowler sẽ được ghi tên vào sử sách. Nhưng vào năm 2003, một anh tài trong giang hồ, một lập trình 46 tuổi đến từ Boston, Eric Evans đã công bố một cuốn sách “Domain-Driven Design: Tackling Complexity in the Heart of Software” (Domain Driven Design: Xử lí sự phức tạp cốt lõi của phần mềm). Cuốn sách đã khiến 1 anh chàng Martin nào đó trên thế giới phải cất poster và khóc.
Nhìn chung thì Evans vẫn đồng ý với đa số các ý tưởng của N-Layered, đó là sự kế thừa của hệ thống chỉ nên đi theo 1 hướng (các tầng gọi nhau lần lượt từ trên xuống dưới).
Tuy nhiên ông cho rằng, cũng không tệ lắm nếu một module bậc thấp (tầng bên dưới) có thể gọi lên module bậc cao ở tầng cao hơn. Miễn là nó không phá vỡ hướng đi kế thừa của hệ thống (dependency direction). Điều này có thể làm được bằng callback, hoặc một số design pattern như observer, ….
Ông cũng cho rằng, các Controller thường bị lắp quá nhiều logic, nên ông đã chuyển chúng sang 1 layer khác tên là Application. Ông cũng cho rằng tầng Bussiness logic nên được chú trọng nhiều hơn là tầng database (data access). Nhưng nhìn chung cấu trúc cũng không thay đổi nhiều lắm.
Ở cấu trúc của ông, một hệ thống được quy định như sau:
Presentation Layer — tầng “trình bày”, tương tác với bên ngoài.
Application Layer — Nhận và điều phối các yêu cầu, sau đó chuyển qua tầng Domain.
Domain Layer — Chứa các chức năng chính của hệ thống.
Infrastructure Layer — Xử lí dữ liệu (tương tự tầng data access)
Bạn có thể thấy ông đã đổi tên một số tầng tưởng chừng như có chung mục đích, nhưng chúng có nguyên do của nó. User Interface thường có ý nghĩa là bạn có một user người dùng nào đó, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Đôi khi ta có một GUI (Graphical User Interface – Giao diện người dùng) cho users, nhưng cũng có thể là 1 CLI (Command Line Interface – Giao diện cmd) cho lập trình viên, hay có thể là API (Application Programming Interface) cho các ứng dụng khác gọi vào. Tầng Presentation thì sẽ “Generic” , chung chung hơn, bao quát hơn.
Business logic thì nghe có vẻ hơi trừu tượng cho đội lập trình viên, vì chúng ta thường không thiên về mảng kinh tế, vì vậy ông đã tạo ra 1 tên mới “Domain – miền”
Ở tầng dưới cùng, đôi lúc, ta không chỉ lưu dữ liệu vào ram, vào database hay đâu đó. Mà có thể ta muốn nó sẽ gọi đến chỗ khác, kiểu gửi 1 email, 1 tin nhắn zalo, … nên chúng được gộp chung thành tầng Infrastructure (Hạ tầng).
Nhìn chung là thế, một số sự thay đổi tên, thêm 1 layer mới, có một số phần khác đã được thêm vào tầng Domain. Và đó là DDD – Domain Driven Design.
In computer science, ACID (atomicity, consistency, isolation, durability) is a set of properties of database transactions intended to guarantee data validity despite errors, power failures, and other mishaps.[1] In the context of databases, a sequence of database operations that satisfies the ACID properties (which can be perceived as a single logical operation on the data) is called a transaction. For example, a transfer of funds from one bank account to another, even involving multiple changes such as debiting one account and crediting another, is a single transaction.
Bản dịch
Trong khoa học máy tính, thuật ngữ ACID gồm bốn yếu tố mà database transaction (phiên cơ sở dữ liệu) được xây dựng để đảm bảo dữ liệu sẽ luôn chuẩn xác, cho dù có xảy ra lỗi, vấn đề điện, …. Trong database, một dãy các câu lệnh database mà thoả mãn các tính chất ACID được gọi là một transaction (phiên). Ví dụ đơn giản, việc bạn chuyển tiền từ ngân hàng A sang ngân hàng B, chúng chứa rất nhiều sự thay đổi, như giảm tiền ở ví A, tăng tiền ở ví B, tạo thêm lịch sử, …. là một phine
Định nghĩa một Transaction
Một transaction (phiên) thể hiên một nhóm các câu lệnh được chạy trong database, thông thường chứa nhiều lệnh khác nhau
Ví dụ việc chuyển tiền trong ngân hàng gồm 4 câu lệnh từ tài khoản Alice sang tài khoản Bob
ACID là gì
ACID, là viết tắt của 4 chữ cái đầu trong (Atomicity, Consistency, Isolation, Durability) là 4 tính chất của một transaction, nhằm đảm bảo dữ liệu luôn chuẩn xác, đúng điều kiện cho dù server sập, mất điện, ..
Atomic – Tính đồng bộ
Đảm bảo rằng toàn bộ câu lệnh trong một phiên luôn phải đồng bộ trạng thái. Tức là, 1 là toàn bộ đều được chạy thành công, thay đổi xảy ra, hoặc là toàn bộ đều phải bị chặn, chứ không lọt cái gì riêng lẻ cả
Consistent – Tính nhất quán
Đảm bảo rằng một phiên chỉ có thể chuyển một database từ một trạng thái đang đúng (valid) sang một trạng thái valid (đúng) khác, ngăn chặn các dữ liệu bị lỗi, …
Các kiểu dữ liệu, kiểm tra, trigger, …. các điều kiện đều phải đảm bảo pass trước khi phiên chạy
Isolation – Tính cách ly
Quy định việc khi nào và bằng cách nào mà một thay đổi từ một phiên có thể hiển thị cho phần khác. Serializable và Snapshot Isolation là 2 level trong sự chặt chẽ này (Đọc thêm: …)
Có thể đạt được Isolation bằng pessimistic or optimistic locking.
Đảm bảo rằng kết quả của phiên luôn được chắc chắn lưu trong hệ thống. Sự thay đổi phải được giữ cho dù hệ thống sập, mất điện, ….
Chúng có thể được lưu như 1 transaction log, … và khi hệ thống khởi động lại, ta có thể chạy lại mọi thay đối giữa chừng để đảm bảo dữ liệu ổn định
Các ưu điểm của ACID Transaction
Dữ liệu sạch
Đảm bảo rằng dữ liệu luôn chuẩn, không bị mất mát. Tránh các cập nhật bị mất, dirty read, stale read (thảo luận bên dưới). Đảm bảo các tiêu chuẩn về dữ liệu cho phần code. Điều này là tuyệt đối cần thiết cho các hệ thống ngân hàng, tiền bạc, … vì mọi dữ liệu sai sót đều ảnh hưởng trực tiếp đến công ty. Xử lí các vấn đề sai sót ở ngay tầng database bằng sự nhất quán, chuẩn chỉnh được tạo ra bởi phiên ACID là một cách khá đơn giản.
Xử lí đồng bộ đồng thời (Concurrency)
Truy cập đồng thời xảy ra thường xuyên trong các hệ thống lớn. Ví dụ như một cái rương vật phẩm chung trong game, một số tiền chung trong tài khoản ngân hàng (tưởng tượng bạn nhận tiền và chuyển tiền cùng lúc), bảng xếp hạng trong game, ….
Tính chất Isolation – cách ly của ACID giúp các lập trình viên trong điều này
Database sẽ đảm bảo transaction với một ” serializable isolation”, lập trình viên có thể xử lí transaction một cách “tuần tự” như queue vậy, dù thực tế chúng xảy ra đồng thời.
Trong khoa học máy tính, “state” nghĩa là một trạng thái của hệ thống, của một thành phần hoặc ứng dụng của chúng ta tại một điểm thời gian
Ví dụ: Bạn đang mua hàng trong amazon.com, ta có thể coi việc bạn “đang đăng nhập” là một trạng thái, “đang có hàng trong giỏ” là một trạng thái, ….
Trạng thái biểu diễn dữ liệu đang được lưu trữ, và giúp chúng ta kiểm soát hiện trạng hiện tại của ứng dụng.
Kiến trúc Stateful
Tưởng tượng bạn đến một cửa hàng pizza để ăn. Hiện tại quán chỉ có 1 phục vụ bàn, phục vụ bàn sẽ lấy các note từ bàn của bạn, bạn order gì, hay là những món bạn trước đây từng ăn, bạn có dị ứng gì không, …
Tất cả những thông tin trên sẽ được phục vụ bàn ghi lại về một “state” hay trạng thái của khách hàng. Chỉ có phục vụ bàn có những thông tin này, nếu bạn dạo này thích ăn món gì đó khác hơn, hoặc bị dị ứng gì đó mới, bạn cần cập nhật đúng với phục vụ này để thay đổi. Nhưng mà cả quán chỉ có 1 phục vụ nên bạn không lo nhầm người.
Tưởng tượng rằng, quán ăn có đông khách hơn, và phục vụ phải phục vụ rất nhiều khach. Quán cần nhiều phục vụ hơn, tuy nhiên lúc này, nếu bạn muốn đổi khẩu vị hay món khác, thì nếu bạn chọn người phục vụ khác sẽ không được.
Những nhân viên phục vụ khác thì chẳng có thông tin gì về state của bạn cả. Họ không thể đổi đơn hàng của bạn, hay đọc chúng. Nếu một nhà hàng hoạt động theo kiểu như vậy, tức là chỉ 1 phục vụ có thông tin của bạn, sẽ được gọi là cấu trúc stateful
Tưởng tượng về dạng server, một hệ thống stateful sẽ chỉ có 1 server duy nhất ghi nhớ dữ liệu của người dùng. Toàn bộ các request, làm việc sau này của 1 khách hàng sẽ chỉ được điều hướng vào người đó qua các trình load balancer (cân bằng tải) với 1 sticky session. Một server sẽ luôn biết client của mình là ai.
Sticky session (phiên được ghim) là một cài đặt cho phép cân bằng tải (load balancer) điều hướng các request của người dùng đến riêng 1 server duy nhất trong quá trình 1 phiên của họ. (1 phiên có thể kết thúc khi người dùng tắt browser, tắt máy, sau 1 ngày, …)
Điều này đi ngược lại với cách cân bằn gtari truyền thống, khi mà request của bạn được phân bổ đến các server khác nhau bằng round-robin hoặc các cách phân bổ khác. (kiểu phân bổ dần 1->2->3->4 rồi lại quay về 1 theo thứ tự request, hoặc phân bổ random, …)
Cách làm trên nghe có vẻ khá ổn với các hệ thống nhỏ. Tuy nhiên, thế giới chúng ta không lý tưởng. Giả sử, nếu 1 server bị chết, bị dồn quá tải, … thì toàn bộ thông tin của người dùng với server đó sẽ mất hết, điều này hoàn toàn không ổn chút nào.
Hơn nữa, việc phân bổ dữ liệu như vậy cũng không tốt trong nhiều trường hợp. Ví dụ, có một số client gửi rất nhiều request, khiến cho 1 server bị quá tải, trong khi vài server khác lại chỉ có vài request nhỏ, khiến việc cân bằng chung không ổn.
Kiến trúc Stateless
Kiến trúc stateless, dịch thuần tiếng anh là (không có state). Không hẳn là không có state, mà lúc này các server – hay vị phục vụ bàn sẽ không trực tiếp nhớ xem là khách hàng order gì, thông tin như nào, mà thay vì đó, họ sẽ dùng một phần mềm gì đó, một điện thoại, một tờ giấy chung để ghi thông tin khách hàng. Khi đó, nếu phục vụ khác đến, họ chỉ cần đọc tờ giấy lưu trữ chung để xem khách hàng muốn gì.
Bằng việc lưu các trạng thái của khách hàng ở một hệ thống chung nào đó, có thể truy cập bởi mọi phục vụ/server, server nào cũng có thể phục vụ chung 1 khách hàng.
Nhìn về khoa học máy tính, lúc này ta có thể phân bổ request của người dùng đến server bất kì, việc dữ liệu của người dùng có thể lưu ở 1 database nào đó khác biệt, có thể truy cập bằng mọi server.
Việc cân bằng tải cũng tốt hơn, vì lúc này ta có thể chọn các server sđang ít khách phục vụ, hoặc đánh theo tuần tự, …
Tổng kết
Nhìn chung, stateless mang lại tính mở rộng lâu dài và ổn định tốt hơn stateful
Stateless/stateful không chỉ là cách thiết kế server, cân bằng tải như ví dụ trên. Mà có thể áp dụng vào các design pattern, các hàm trong code, ….
Có thể bạn đã được nghe về các thuật ngữ này từ các câu hỏi trong các buổi phỏng vấn, trong một bài đăng medium nào đó, trong một cuộc thảo luận của anh em trong giang hồ. Vậy chính xác các term như high cohesion, low cohesion, loosely coupled, highly coupled có nghĩa là gì?
Cohesion (Tương đồng – Gắn kết)
In computer programming, cohesion refers to the degree to which the elements inside a module belong together.[1] In one sense, it is a measure of the strength of relationship between the methods and data of a class and some unifying purpose or concept served by that class. In another sense, it is a measure of the strength of relationship between the class’s methods and data themselves.
Cohesion is an ordinal type of measurement and is usually described as “high cohesion” or “low cohesion”. Modules with high cohesion tend to be preferable, because high cohesion is associated with several desirable traits of software including robustness, reliability, reusability, and understandability. In contrast, low cohesion is associated with undesirable traits such as being difficult to maintain, test, reuse, or even understand.
Cohesion is often contrasted with coupling. High cohesion often correlates with loose coupling, and vice versa.[2] The software metrics of coupling and cohesion were invented by Larry Constantine in the late 1960s as part of Structured Design, based on characteristics of “good” programming practices that reduced maintenance and modification costs. Structured Design, cohesion and coupling were published in the article Stevens, Myers & Constantine (1974)[3] and the book Yourdon & Constantine (1979);[1] the latter two subsequently became standard terms in software engineering
Wikipedia
Bản dịch
Trong khoa học máy tính, cohesion (tính tương đồng) thường được nhắc tới như một góc độ đánh giá nào đó, về việc các phần tử trong 1 module “tương đồng” với nhau.
Thông thường có thể nhắc tới việc sự liên kết bền chặt giữa các hàm (function) và các biến (property) trong 1 class có sự liên kết với nhau
Thông thường sẽ có 2 định nghĩa chính là “high cohesion” (tương đồng cao) và “low cohesion” (tương đồng thấp).
High cohesion thường đi cùng với việc code chặt chẽ hơn, dễ tái sử dụng, dễ bảo trì và dễ hiểu.
Vậy có thể hiểu là, high cohesion thường được ám chỉ các hàm và các biến trong 1 class đều cùng phục vụ mục đích, hoặc được sử dụng cho một ý nghĩa gì đó có tính tương đồng cao với nhau.
Trong cuốn Clean Code của Uncle Bobs có viết:
“Một class chỉ nên có ít biến. Các hàm trong class đó nên tác động lên một hoặc nhiều các biến trên. Nếu các hàm trong 1 class càng dùng nhiều các biến có sẵn, thì class có tính tương đồng càng cao”
=> Tức là một class được đánh giá là tương đồng cao nên chỉ làm các tác vụ bên trong class đó, phục vụ chung 1 mục đích.
Ví dụ:
Bạn có một nhân vật trong 1 con game của mình. Bạn có các code logic cho việc nhân vật di chuyển từ các nút bấm trên bàn phím, và một số code logic để hiển thị việc nhân vật di chuyển trên trục toạ độ trên màn hình (render hình ảnh)
Nếu toàn bộ code đều nằm trong 1 class, code của bạn có 1 số hàm xử lí toán học cho nhân vật di chuyển, lại có 1 số hàm, biến để render hiển thị lên. Rõ ràng chúng có tính tương đồng yếu. Một cách đơn giản để nhận biết, bạn có thể nhìn các tên biến, tên hàm xem chúng có liên quan đến tên class không
Ví dụ: class tên là “InvoiceManager” (Quản lý hoá đơn), nếu có 1 hàm nào đó tên là “InHoaDon” thì cũng k ổn lắm, nó nên nằm trong “Printer”, hay có 1 hàm nào đó là “GuiEmailHoaDon” (thì hàm đó cũng nên làm trong class nào đó tên là EmailManager, …)
Coupled/Coupling (Tính liên kết)
Thoạt nghe thì nó có vẻ là 1 thuật ngữ trái ngược với cohesion? Vậy High Cohesion (tương đồng cao) thì sẽ có Tightly Coupling (Liên kết chặt) ?
Ở trường hợp này thì không. Cohesion thường dùng để xem xét giữa các phần tử (hàm, biến) trong 1 module (class). Trong khi Couple thường dùng để đánh giá tính liên kết giữa nhiều module
Liên kết lỏng cho rằng, giữa các module với nhau, chúng không nên biết quá nhiều về nhau (liên kết quá chặt chẽ), mà chỉ nên giao tiếp với nhau qua 1 số phương thức mang tính “khái quát” nhất định một cách lỏng lẻo (loosely coupled)
Ví dụ: Chiếc mũ đang “liên kết lỏng lẻo” với người đàn ông. Bạn dễ dàng thêm hoặc bỏ cái mũ ra mà không phải thay đổi gì người đàn ông cả. Khi code bạn làm được như vậy, thì nó là liên kết lỏng lẻo (loosely coupled)
Ví dụ:
Bạn đang có một class xử lí việc bán lẻ bánh ở cửa hàng của mình tên là “CuaHang”. Cửa hàng sẽ lấy bánh từ class “XuongBanh”. Ban đầu class của bạn chỉ cần cứ lấy bánh từ Xưởng rồi bán thôi, việc rất đơn giản
Nhưng một ngày đẹp trời, bạn nhận ra khách có vẻ thích những chiếc bánh có một chút muối, rồi thì bánh có thêm chút trang trí. Dĩ nhiên việc thêm chút thứ gia vị này, bạn cần thêm một chút tiền vào giá hàng, bạn sửa code thành như sau:
Bạn có thể thấy, điều này đáp ứng nhu cầu của bạn. Tuy nhiên bạn thấy rõ ràng lúc này class Banh và CuaHang đang gắn rất chặt với nhau. CuaHang can thiệp quá nhiều vào class Banh, và có những phương thức không phù hợp lắm. (CuaHang chỉ nên là bán hàng thôi, chỉ nên có giá tiền). Rõ ràng bạn có thể làm chúng liên kết lỏng hơn như sau:
Rõ ràng, lúc này class CuaHang chỉ cần tập trung lấy bánh và sau đó tính ra tổng tiền. Không cần quan tâm giá từng loại bánh từ xưởng nữa, vì việc tính tiền giá trị 1 đơn hàng sẽ được thực hiện bởi 1 class khác. CuaHang chỉ cần biết tôi sẽ có được tổng tiền từ hàm này, chứ không cần biết chính xác các class kia sẽ cụ thể làm gì, tính cái gì nữa (liên kết lỏng)
Mở rộng hơn nữa, ví dụ một ngày bạn muốn bán kẹo thì sao? Bán gấu bông? … Nhu cầu thị trường luôn thay đổi, bạn luôn muốn giàu hơn và mở rộng hơn nữa, lúc này bạn lại nhận ra, class CuaHang đang phụ thuộc quá nhiều vào xưởng bánh, mà thực chất ta chỉ cần lấy ra danh sách sản phẩm từ 1 xưởng nào đó thôi, ta có thể sửa thành như sau:
Ta tạo 1 interface VatPham luôn có 1 phương thức tinhTien(), sau này, ta có thể làm bánh, kẹo, trái cây, .. chỉ cần chúng implement interface VatPham, ta luôn đảm bảo ta có thể lấy giá tiền từ chúng, còn implemention thực tế chúng tính tiền thế nào là việc của class con đó.
Tương tự, ta có 1 interface XuongSanXuat luôn trả về các danh sách vật phẩm, chúng có thể là xưởng bánh trả về bánh, xưởng kẹo trả về kẹo
Cửa hàng bây giờ khi khởi tạo có thể truyền vào xưởng mà chúng sẽ nhận đồ để bán
Cuối cùng, chuỗi cửa hàng của ta với nhiều cửa hàng, có thể có cửa hàng bánh, cửa hàng kẹo, còn việc chúng tính tiền thế nào làm gì cũng không phải việc của class lớn nữa. Dự án đã lỏng lẻo hơn nhiều ban đầu, và dễ mở rộng hơn.
Tổng kết
Với các dự án lập trình, thông thường chúng ta nên nhắm tới việc đạt được cùng lúc 2 yếu tố: High Cohesion (tương đồng cao trong 1 class/module) và Loosely Coupled (liên kết lỏng giữa nhiều module)
Việc đạt được 2 yếu tố trên giúp code dễ mở rộng, dễ bảo trì, ta dễ dàng tìm được nguyên căn nơi tạo lỗi vì chúng không share chung các code nhỏ với nhau, nên lỗi chỉ nên từ 1 nguồn
Đây là 1 kĩ năng thiết yếu với lập trình viên cho các dự án ngày càng cần mở rộng
Đây có lẽ là cách lưu trữ thường được thấy và dễ tưởng nhất. Trường primary key sẽ đóng vai trò như số thứ tự, giúp phân biệt giữa các row khác nhau, cách lưu trữ bằng số có thể được DB tự gen bằng cách gen sequence.
Khá tiện quản lý, sử dụng trong tầng dữ liệu
Dễ hiểu, dễ đọc, dễ tìm
Điểm trừ của cách làm này là:
Giả sử bạn đang lưu trữ dữ liệu cho 1 tệp khách hàng, được đánh id từ 1-1000, một ngày nào đó, bạn cần migrate data từ các bảng khác, từ những bảng cũ, … (kiểu sát nhập công ty, …) và cũng có tập dữ liệu được đánh số từ 1-100, 500-1000 gì đó. Điều này làm việc sát nhập trở lên khó khăn hơn do key chính để phân biệt các hàng đã bị trùng
Việc đánh số tuần tự cũng có thể tạo các risk về security, … Ví dụ bài viết đang được lưu đơn giản đánh bài viết số 1,2,… Từ đó từ bên ngoài có thể đoán được và truy cập được 1 bài viết bất kì.
Lưu trữ bằng UUID
Lúc này, một cách làm khác đã thường được sử dụng là UUID (Universally unique identifier). Sẽ khó có ai có thể đoán được uuid của 1 bài viết được sinh ra ngẫu nhiên.
UUID được sinh ngẫu nhiên, tỉ lệ trùng lặp là rất thấp
Tránh được việc user tự mở 1 bài viết bất kì
Tuy nhiên nó cũng đi kèm một số nhược điểm quan trọng
UUID dài. Để lưu trữ 1 uuid, thông thường ta cần tới 16 byte. Nó tốn dữ liệu hơn nhiều trong database so với lưu số thông thường. Sau này, khi ta sử dụng các database quan hệ giữa nhiều bảng, việc join các cột foreign keys sẽ ngày càng lớn hơn giữa các primary key
UUID do được sinh random, nên database sẽ khó lòng index một bảng để truy vấn nhanh hơn (VD MySQL sử dụng B+ Tree, cần một trường nào đó đánh theo một dãy giá trị có thể sắp xếp được: số, …).
Một số cách làm khác
ULID (Universally Unique Lexicographically Sortable Identifier). Vẫn là 16 byte, nhưng phần đầu sẽ chứa dữ liệu của timestamp (ngày tháng), và còn lại là ngẫu nhiên. Điều này giúp xử lí việc index database, dễ sắp xếp hơn
TSID (Time-Sorted Unique Identifiers). Cũng giống với ý tưởng của ULID nhưng chỉ tốn 8 byte. Tuy nhiên chúng cũng đi kèm với 1 số tradeoff
Đi sâu vào TSID
Có nhiều cách để triển khai TSID, trong bài này mình sẽ nói về Hypersistence TSID (Thư viện OSS), cho phép tạo 1 TSID 64-bit gồm 2 phần
Vì TSID là một số 64-bit (có thể sắp xếp), ta có thể lưu nó vào database dưới dạng bigint
CREATE TABLE post (
id bigint NOT NULL,
title varchar(255),
PRIMARY KEY (id)
)
Lưu ở phía Entity
@Entity
@Table(name = "post")
public class Post {
@Id
private Long id;
private String title;
}
Tổng kết về TSID
Đa phần giữ được các ưu điểm của UUID như khó đoán ở phía người dùng, tạo sự phân biệt, …
Lưu trữ nhẹ hơn UUID (8 byte vs 16 byte)
Tuy nhiên TSID có thể có tỉ lệ bị sinh ra ngẫu nhiên trùng cao hơn do chỉ có 22bit ngẫu nhiên (xác suất sinh trùng là 0.3%)
Xử lí việc sinh trùng, bạn có thể thêm số lần retry để tự động sinh lại nếu xảy ra collision
Khi nào nên sử dụng TSID
Phần ID có thể expose cho phía client người dùng, ví dụ như id bài viết, video, …. còn các bảng phụ hỗ trợ liên quan có thể cứ dùng dạng số để thuận tiện và tiết kiệm
Các database expose cho người dùng, cần tính đến việc scale lâu dài, và tiết kiệm
Bất kì mô hình hệ thống nào đều nhắm đến giúp code của bạn được tổ chức tốt hơn, đẹp hơn. Khi mà nhu cầu của người dùng ngày càng cao, độ phức tạp của hệ thống càng gia tăng, mô hình hệ thống của bạn cũng cần phải bắt kịp chúng. Với một số dự án nhỏ, có thể bạn chỉ cần thêm thẳng code vào controller, tuy nhiên, ở các hệ thống lớn hơn bạn sẽ cần một số cách tiếp cận hợp lí hơn.
Đa số hệ thống chỉ cần cấu trúc N-Layered (N tầng) với 3 tầng cơ bản:
User Interface (UI) — chịu trách nhiệm tương tác với người dùng (giao diện)
Business logic layer (BLL)— Xử lí các logic chính của hệ thống
Data Access layer (DAL) — Là tầng giao tiếp với dữ liệu như database, …
VỚi một hệ thống như vậy, đa số vấn đề của bạn sẽ giải quyết theo 1 chiều thông thường. Các tầng sẽ phụ thuộc trực tiếp vào nhau, sau đó gọi dần xuống tầng bên dưới.
Ví dụ một luồng:
User click vào 1 nút trên tầng UI của website. Tầng UI sau đó gọi 1 API vào Bussiness Logic, bussiness logic gọi xuống Data Access để lấy dữ liệu bài viết ở database, sau đó ở bussiness logic sẽ xử lí dữ liệu đó (format, thêm thắt ngày tháng, ….), rồi cuối cùng trả về tầng trên cùng UI.
Tuy rằng kiến trúc N-Layered giúp ta xử lí đa số vấn đề, giúp code gọn hơn, clean hơn, tổ chức các chức năng liên quan thành nhiều layer khác nhau, dễ cài đặt, nhưng chúng cũng có một số vấn đề:
Khi hệ thống lớn dần, thường các logic sẽ được xử lí ở tầng Data Access (database), chứ không phải ở Business Logic. Điều này khiến lập trình viên thường tập trung vào tầng db hơn là tầng logic chính.
Tầng Data Access dần làm mọi việc, khó để thay đổi, vì các tầng trên đều nhảy vào nó.
Các tầng liên kết với nhau chặt chẽ, và vài thay đổi ở tầng Data Access sẽ làm hỏng các phần khác.
Ví dụ: Sau khi code nhiều ngày đêm, bạn gửi sản phẩm là một trang đọc báo cho khách hàng. Trang đọc báo này có cơ chế như sau:
Tầng UI: Hiển thị một bài viết
Business Logic: Gọi xuống database lấy dữ liệu các bài viết
Data Access: Làm việc với database, lấy các dữ liệu bài viết ra từ một database MySQL chẳng hạn.
Tầng Business Logic chứa các hàm:
layBaiViet() -> dataAccess.layBaiVietDb()
Tầng Data Access sẽ chứa hàm bên trên, nơi Business gọi xuống, và thực hiện các tác vụ, vì lúc này các model, object đang nằm ở tầng Data, chứ không ở tầng Business:
Do các model, entity ta làm việc với db đều chứa hết ở tầng này, nên ta cần xử lí các hàm ở tầng Data Access. Và kể cả có chuyển các hàm này lên tầng bên trên, thì nhìn chung các Model đều vẫn chứa ở Data Access. Chỉ cần mình thay đổi ví dụ Model ở Data Access một hàm mới, bên trên đều phải thay đổi.
Tưởng tượng lúc này, một ngày đẹp trời, khách hàng của bạn muốn chuyển DB sang MongoDB chẳng hạn, hoặc chuyển sang abcxyz gì đó. Lúc này bạn lại phải sửa hết code ở tầng Data Access cho hợp DB mới, và việc sửa ở đây cũng dẫn đến sửa các tầng bên trên
DDD – Domain Driven Design
Mô hình trên cho rằng, ta nên tập trung vào phần Business, hay còn gọi là Domain là phần core, cốt lõi của hệ thống hơn, thay vì Data Access. Data Access chỉ nên tập trung vào lấy dữ liệu, cập nhật dữ liệu, …. , còn xử lí logic nên nằm ở Domain. Tuy nhiên, với cấu trúc như thông thường khi mà chiều phụ thuộc, gọi xuống đang đi từ trên xuống dưới, ta buộc phải dồn logic xuống dưới cùng. Lúc này, ta có một kĩ thuật mới (Dependency Inversion – Đảo chiều sự phụ thuộc) , đây cũng là chữ cái “D” trong S.O.L.I.D
Điều gì đã thay đổi ? Ta vẫn giữ những cấu trúc tầng, cho phép code được tổ chức, chia thành các khối, giữ nguyên các điểm tốt của N-Layered, tuy nhiên với một vài cải tiến:
Business Logic/Domain sẽ là phần lõi, ở giữa của hệ thống, được dùng ở các phần khác
Business Logic giờ mới là phần khó thay đổi. Điều này có thể chấp nhận, bạn hãy tưởng tượng, có thể hệ thống bạn sẽ đổi database khác, đổi cách lấy dữ liệu, hay giao diện khác, còn logic trung tâm của hệ thống (ví dụ hệ thống ngân hàng thì logic trung tâm là xử lí tiền, …) thì không thể đổi được (trừ khi công ty sập)
Mỗi thay đổi của tầng Business/Domain sẽ cần đổi ở tầng khác, điều này cũng đúng hơn với tự nhiên, khi mà concept cốt lõi là logic của ứng dụng, mục tiêu của ứng dụng thay đổi thì mới thay đổi các tầng ocn kia.
Nhưng làm sao để có thể đảo chiều sự phụ thuộc?
Trước tiên, hãy xem cách triển khai thông thường của N-Layered
OrderService là một module xử lí các order (đơn hàng) cho hệ thống shop của bạn. Nhưng chúng chưa có dữ liệu, vì vậy chúng cần gọi xuống SqlOrderRepository là một module lấy dữ liệu từ database. Như vậy, OrderService phụ thuộc vào SqlOrderRepository
Thông thường, người ta sẽ viết OrderService phụ thuộc vào một IOrderRepository (interface), để giúp việc thay thế dễ dàng hơn (phụ thuộc 1 interface ảo, chứ không phải 1 class)
Lúc này ta chỉ cần di chuyển interface trên về business
Lúc này, ta sẽ quy định các method của repository, các hàm như kiểu getOrderByName (lấy dữ liệu từ tên), update, create, …. OrderService phụ thuộc trực tiếp vào repository này (Vẫn ở tầng Business)
Lúc này tầng Data Access, các class xử lí dữ liệu thực sự sẽ implement lại repository từ tầng Business, implement lại các hàm trên, nơi viết logic thực sự.
Lúc này, tầng Data Access đang phụ thuộc ngược vào tầng Bussiness
Rõ ràng, OrderService không cần quan tâm Data Access có thể là database nào nữa, nó có thể là class MySQL, Môngo,…. , chỉ cần biết chúng phải implement interface Repository có ở Business, và việc xử lí logic thì data access xử lí sao thì business không cần quan tâm.
Việc gắn các class ở dataaccess vào business có thể thông qua các IoC Container (Ví dụ như Spring IoC – Inversion of Control)
Cách làm trên được gọi là Dependency Inversion (đảo ngược sự phụ thuộc) khi mà sự phụ thuộc, nơi xử lí được đảo ngược lại.